- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/HS-ST Ngày 07 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Anh Trình và bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2021/TLST- HS ngày 15/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-HS ngày 11/11/2021 đối với bị cáo: Trần Văn H, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1974; tại Xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi thường trú và chổ ở hiện nay: Thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị T; Vợ: Hoàng Thị B (Ly hôn năm 2021). Con: 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 27/4/2021, bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã nộp phạt.
Nhân thân: Ngày 22/5/1998, bị Công an TP. Đồng Hới xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2021 cho đến nay, theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Anh Lê Anh T, sinh năm 1994, địa chỉ: TDP 3, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 30 phút ngày 10/6/2021, Tổ công tác của Công an huyện Quảng Ninh đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã Gia Ninh. Khi đến đoạn đường liên xã Gia Ninh đi xã Hải Ninh, thuộc địa phận thôn D, xã G phát hiện đối tượng Trần Văn H (sinh năm 1974, trú tại thôn H, xã H, huyện Q) điều khiển xe mô tô BKS: 73B1-082.53 lưu thông theo hướng thôn D, xã G đi xã Hải Ninh có biểu hiện nghi vấn nên Tổ công tác đã dừng xe của H để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an huyện Quảng Ninh đã phát hiện trong cốp xe mô tô BKS: 73B1-082.53 mà H đang điều khiển có cất giấu 02 (hai) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến được bọc trong 01 (một) mảnh giấy bạc. Trần Văn H khai 02 (hai) viên ma túy hồng phiến này là của H mua từ một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình từ vài ngày trước về sử dụng. Công an huyện Quảng Ninh đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan.
Ngày 10/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã có Quyết định trưng cầu giám định số 45/CSĐT để trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình giám định khối lượng, loại chất ma túy đối với 02 (hai) viên nén đã thu giữ nói trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 827/GĐ-PC09 ngày 15/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định 02 (hai) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt có in chữ “WY” có khối lượng 0,214g (không phẩy hai trăm mười bốn gam) là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Về vật chứng vụ án: Ngày 10/6/2021, quá trình bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 02 (hai) viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng được bọc trong 01 (một) vỏ giấy màu bạc. 02 (hai) viên nén đã được niêm phong sau khi thu giữ. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 866977039731536, số IMEI 2: 866977039731528, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI 1: 359933095272895/01, số IMEI 2: 359934095272693/01, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. 01 (một) thẻ căn cước công dân số 044074002038, mang tên Trần Văn H do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 26/02/2019. 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009859, tên chủ xe Lê Anh T, biển số đăng ký 73B1 - 082.53 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/11/2012. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đen trắng, số khung: 901836, số máy: 901869, BKS: 73B1 - 082.53, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong.
Ngày 26/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng số 27/CSĐT trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Trần Văn H những đồ vật, tài liệu sau: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 866977039731536, số IMEI 2: 866977039731528, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, số IMEI 1: 359933095272895/01, số IMEI 2: 359934095272693/01, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. 01 (một) thẻ căn cước công dân số 044074002038, mang tên Trần Văn H do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 26/02/2019. 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 009859, tên chủ xe Lê Anh T, biển số đăng ký 73B1-082.53 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 28/11/2012.
Ngày 02/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng số 28/CSĐT trả lại cho chủ sở hữu là chị Hoàng Thị B những đồ vật, tài liệu sau: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đen trắng, số khung: 901836, số máy: 901869, BKS: 73B1-082.53, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong.
Bản Cáo trạng số: 40/CT-VKS - MT ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo Trần Văn H vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 12 tháng đến 18 tháng tù và xử lý vật chứng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo rất ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 13 giờ 30 ngày 10/6/2021, Trần Văn H đã có hành vi tàng trữ trong cốp xe mô tô BKS: 73B1 – 082.53 gồm 02 (hai) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt có in chữ “WY” để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Quảng Ninh phát hiện và bắt quả tang. Tại Bản kết luận giám định số 827/GĐ-PC09 ngày 15/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 02(hai) viên nén màu hồng, trên là Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323- Danh mục II Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ, có tổng khối lượng 0,214g (không phẩy hai trăm mười bốn gam) là chất ma túy, loại Methamphetamine. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn H phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực sự gây nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, không làm chủ được bản thân trước cám dỗ của tệ nạn ma túy. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là mối hiểm họa lớn của toàn xã hội, làm suy kiệt tài sản gia đình, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội; việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, chiếm đoạt trái phép chất ma tuý bị nghiêm cấm tuyệt đối. Bị cáo đã có 01 tiền sự, ngày 27/4/2021, bị Công an huyện Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật, do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt trong khung hình phạt đối với bị cáo.
Từ những đánh giá trên, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo Trần Văn H ra ngoài xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo không nhằm mục đích sinh lợi nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ tại bị cáo còn lại sau giám định là 0,144 gam là Methamphetamine, mẩu ký hiệu A đã được niêm phong trong phong bì số: 827/GĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình là loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
Trong vụ án này bị cáo Trần Văn H khai nhận bản thân nghiện ma túy và số ma túy mà Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh thu giữ là do mua của một đối tượng nam thanh niên nhưng không rõ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể ở đâu tại khu vực xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình về để sử dụng. Vì không có thông tin đầy đủ về đối tượng trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xác định và xử lý đối tượng trên.
Đối với chủ sở hữu của chiếc xe mô tô BKS: 73B1-082.53 (phương tiện mà bị cáo Trần Văn Huân sử dụng để phạm tội) là chị Hoàng Thị B (sinh năm 1977) trú tại thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, quá trình điều tra xác định việc Trần Văn H sử dụng xe mô tô trên để đi mua và cất giấu ma túy để sử dụng thì chị Hoàng Thị B không biết, do đó không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với chị Hoàng Thị Bình.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào quy định tại Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/6/2021.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn H.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0, 144 gam là Methamphetamine, mẩu ký hiệu A đã được niêm phong trong phong bì số: 827/GĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình.
Vật chứng nêu trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử: Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - VKSND huyện Quảng Ninh; - Công an huyện Quảng Ninh; - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh; - Bị cáo và những người TGTT; - UBND xã H; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Châu Mạnh Cường |