- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Luận - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/HS-ST Ngày: 30 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mậu Hiệu và ông Võ Xuân Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn, Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Phan Lộc Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2021/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn L, sinh ngày 16/3/1974, tại huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Nơi cư trú: Thôn S, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: không đi học; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Lê Văn C và bà Trần Thị L; có vợ Lê Thị T và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 14/01/2021, bị Công an xã S xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38/QĐ-XPVPHC; bị cáo không bị giam, giữ; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Anh Lê Hữu M, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm P, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. + Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. + Anh Lê Quang H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm D, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Người làm chứng: + Anh Lê Xuân T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm D, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt. + Anh Lê Hữu C, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 10/3/2021, Lê Văn L đến quán cà phê của anh Lê Xuân T ở Xóm D, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Tại đây, L gặp Lê Quang H ở Xóm D, xã S; Lê Hữu M ở Xóm P, xã S và Nguyễn Văn B ở thôn N, xã T. Cả bốn người rủ nhau đánh bạc dưới hình thức bài cào ba cây. Cách thức đánh như sau: Trước khi đánh, những người chơi quy ước với nhau: Mỗi người chơi đặt ra giữa sòng bài số tiền 100.000 đồng (gọi là tiền mậu), Người chơi dùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài chia đều cho bốn người chơi, mỗi người được chia 03 lá bài. Sau đó, người chơi lật bài và cộng điểm tất cả lá bài trên tay. Bài người nào có số điểm cao nhất thì sẽ thắng toàn bộ số tiền đã đặt trên ván bài. Cách tính điểm như sau: Lớn nhất là Xam, Xam gồm 3 quân bài bằng nhau, trong đó, Xam A (Át) lớn nhất, Xam 2 nhỏ nhất. Tiếp đến là Liêng, Liêng gồm 3 quân bài liên tiếp nhau, trong đó, Liêng lớn nhất là Q, K, A, Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3. Tiếp đến là 3 Tây, 03 Tây chỉ gồm 3 quân bài có hình người J, Q, K và cuối cùng là 9 điểm. Điểm được tính theo số ghi trên quân bài theo thứ tự từ 2 đến 9. Riêng quân bài 10 và các quân bài có hình người được tính 0 điểm, quân bài A được tính 1 điểm. Nếu những người chơi có số điểm bài bằng nhau, thì tính theo các chất Cơ, Rô, Chuồn, Bích, trong đó chất Cơ lớn nhất, đến Rô, đến Chuồn, cuối cùng là chất Bích và kết thúc ván bàn đó. Đến khoảng 04 giờ 20 phút ngày 11/3/2021, lực lượng Công an xã sen Thủy tuần tra, kiểm soát phát hiện các đối tượng đang đánh bạc. Tổ công tác lập biên bản sự việc và thu giữ toàn bộ tang vật gồm 4.700.000 đồng tiền Việt Nam đồng và 01 bộ bài tu lơ khơ màu xanh gồm 52 lá bài.
Trong vụ án còn có 03 đối tượng tham gia đánh bạc cùng với Lê Văn L là Lê Quang H, Lê Hữu M và Nguyễn Văn B nhưng số tiền đánh bạc dưới 05 triệu đồng; các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã chuyển hồ sơ cho Công an xã S để xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-Cp ngày 12/11/2013 của Chính Phủ. Đối với anh Lê Xuân T, là chủ quan cà phê nơi bị cáo và các đối tượng đánh bạc, quá trình bị cáo và các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc, anh T nằm ngủ nên không biết, anh T cũng không thu lợi từ việc đánh bạc của các đối tượng nên không phạm tội.
Công an xã S thu giữ tại sòng 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành; 01 bộ bài Tu lơ khơ gồm 52 lá bài màu xanh.
Bản Cáo trạng số 40/CT-VKSNDLT ngày 27/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Lê Văn L về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 36 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ; khấu trừ thu nhập theo quy định của pháp luật. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 4.700.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tu lơ khơ gồm 52 lá bài không còn giá trị sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại đại phương.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 20 phút ngày 11/3/2021, tại quán cà phê của anh Lê Xuân T ở Xóm D, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình, Lê Văn L cùng Lê Quang H, Lê Hữu và Nguyễn Văn B có hành vi đánh bạc với nhau dưới hình thức đánh bài cào lật, được thua bằng tiền. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 4.700.000 đồng. Do Lê Văn L đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nay tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, nên Lê Văn L đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy truy tố bị cáo Lê Văn L về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét bị cáo Lê Văn L là người đã trưởng thành, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhận thức được việc pháp luật nhà nước nghiêm cấm hành vi đánh bạc dưới mọi hình thức; nhưng vì động cơ vụ lợi, bị cáo và các đối tượng khác trong vụ án cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bài cào ba cây, thắng thua bằng tiền. Hành vi của bị cáo và các đối tượng khác trong vụ án góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo; xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về khấu trừ thu nhập: Tại phiên tòa theo trình bày và thừa nhận của bị cáo thì bị cáo có nghề nghiệp lao động làm thuê, thu hoạch bóc võ cây rừng trồng (cây keo, tràm), thu nhập trung bình khoảng 03 triệu đồng/tháng. Hội đồng xét xử quyết định khấu trừ thu nhập đối với bị cáo 5% mức thu nhập hàng tháng để sung ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 4.700.000 đồng là số tiền bị cáo Lê Văn L và các đối tượng khác gồm Lê Quang H, Lê Hữu M và Nguyễn Văn B dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 52 quân bài tu lơ khơ là công cụ mà bị cáo và các đối tượng dùng để đánh bạc, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt: Lê Văn L 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ.
Giao Lê Văn L cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong trường hợp người chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ vắng mặt, thay đổi nơi cư trú hoặc làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Khấu trừ thu nhập đối với Lê Văn L số tiền 150.000 đồng/tháng, trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ và khấu trừ thu nhập kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhận được bản án và quyết định thi hành án của Tòa án.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.700.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tu lơ khơ gồm 52 lá bài màu xanh.
(Số vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/6/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lệ Thủy và Chi cục Thi hành án dân sự huyện L).
4. Án phí: Bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với phần có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Bình; - VKSND tỉnh Q.Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Q.Bình; - VKSND huyện Lệ Thuỷ; - Công an huyện Lệ Thuỷ (02 bản); - Chi cục THADS huyện Lệ Thuỷ; - Bị cáo; người có QLNVLQ; - Lưu VP; HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |