- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38 /2021/HS-ST Ngày: 23/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Như Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2021/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2021/HSST-QĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Tiến D, sinh năm 1983 tại tỉnh P; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu L, xã V, huyện T, tỉnh P; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn D (chết) và bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1948; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/10/2020 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người Bị hại: Ông Trần Ngọc A, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 66/12 ấp D, xã N, huyện H, Thành phố H
Chỗ ở: 171/5 ấp T, xã H, huyện H, Thành phố H.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1948 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 66/12 ấp D, xã N, huyện H, Thành phố H
Chỗ ở: 171/5 ấp T, xã H, huyện H, Thành phố H
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Giao Hàng Tiết Kiệm.
Địa chỉ: Tòa nhà VTV, phường M, quận N, Thành phố H.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Đình T (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà P, phường O, quận T, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 10/5/2020, Trần Tiến D điều khiển xe ô tô tải biển số 29H-338.91 lưu thông trên đường Quốc lộ 22 hướng từ Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh trên làn đường dành cho xe ô tô lưu thông, sát làn đường dành cho xe môtô lưu thông. Khi đến giao lộ đường Quốc lộ 22 và đường Nguyễn Thị Nuôi thuộc ấp Dân Thắng 1, xã Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn (ngã ba Lam Sơn). Do không thận trọng giảm tốc độ nên D đã để đầu xe ô tô của mình đụng vào đầu xe mô tô biển số 53R2-2187 do Trần Ngọc A điều khiển lưu thông ngược hướng từ phải sang trái trước đầu xe ô tô của D. Tai nạn xảy ra làm A bị thương nặng, hai phương tiện liên quan bị hư hỏng.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 806/TgT.20 ngày 31/8/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Ngọc A do thương tích gây nên hiện tại là 85%.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận: Địa điểm xảy ra tai nạn trên đường Quốc lộ 22, nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 22 và đường Nguyễn Thị Nuôi. Đường Quốc lộ 22 (chiều lưu thông từ Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh) được chia thành 03 làn đường, hai làn dành cho xe ô tô lưu thông rộng 3,8 mét và 4,0 mét, một làn dành cho xe mô tô lưu thông rộng 5,2 mét. Ghi nhận vết cày của xe mô tô trên mặt đường dài 24 mét, không ghi nhận vết phanh xe ô tô.
Tốc độ tối đa cho phép lưu thông trên đường Quốc lộ 22 đối với xe ô tô tải là 60km/h. Tiến hành kiểm tra dữ liệu thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên xe ô tô biển số 29H-338.91 ghi nhận tốc độ cao nhất tại thời điểm xảy ra tai nạn là 77km/h.
Nguyên nhân gây ra vụ tai nạn là do lỗi hỗn hợp của Trần Tiến D và Trần Ngọc A:
- Trần Tiến D có lỗi điều khiển xe ô tô biển số 29H-338.91 lưu thông vượt quá tốc độ cho phép (77/60 km/h), đã vi phạm vào điều 11, 12 của Luật giao thông đường bộ Việt Nam.
- Trần Ngọc A có lỗi do điều khiển xe mô tô biển số 53R2-2187 trong lúc đã uống rượu bia có nồng độ cồn trong máu (226mg/dl) vượt mức quy định cho phép, lưu thông không đi về bên phải theo chiều đi của mình (đi ngược chiều đường), chuyển hướng không đúng quy định gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác, đã vi phạm vào điều 8, 9, 15 của Luật giao thông đường bộ Việt Nam.
Vật chứng của vụ án:
- Xe ô tô biển số 29H - 338.91 (nhãn hiệu ISUZU, số máy: 4F6870, số khung: RLE1KR77HKV105865) do Công ty cổ phần Giao hàng tiết kiệm (địa chỉ: Toàn nhà VTV, số 8 Phạm Hùng, phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội) đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe ô tô này cho Công ty cổ phần Giao hàng tiết kiệm tiếp tục quản lý, sử dụng (Bút lục 98, 101).
- Xe mô tô biển số 53R2 - 2187 (Nhãn hiệu Honda, số máy: C70E8543837, số khung : C708401373) do La Vĩ T đứng tên chủ sở hữu. Ông T đã bán lại cho cửa hàng mua bán xe máy cũ tại địa bàn Quận Phú Nhuận. Đến năm 2007 thì chị ruột của Trần Ngọc A là Trần Thị Kim X mua lại xe máy nói trên, sử dụng đến đầu năm 2020 thì cho Trần Ngọc A làm phương tiện đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô này lại cho Trần Ngọc A (Bút lục 98, 102).
Về dân sự: Trần Tiến D và chủ xe ô tô biển số 29H-338.91 đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.00.000 đồng để khắc phục hậu quả dân sự. Gia đình bị hại cũng đã có đơn bãi nại cho Trần Tiến D.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 07/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tiến D mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét
- Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo và gia đình bị hại đã tự thương lượng về dân sự. Gia đình bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Tiến D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 10/5/2020, tại giao lộ đường quốc lộ 22 và đường Nguyễn Thị Nuôi thuộc ấp Dân Thắng 1, xã Tân Thới Thới Nhì, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Tiến D đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 29H-338.91 vượt quá tốc độ cho phép nên đã để đầu xe ô tô của mình đụng vào xe mô tô biển số 53R2-2187 do Trần Ngọc A điều khiển lưu thông từ hướng ngược chiều lại ở phía trước bên phải và đang chuyển hướng từ phải sang trái trước đầu xe ô tô của D làm xảy ra tại nạn. Hậu quả làm Trần Ngọc A bị thương nặng với tỷ lệ là 85%.
Trong vụ tai nạn này, bị cáo Trần Tiến D có lỗi điều khiển xe ô tô biển số 29H – 339.91 lưu thông vượt quá tốc độ cho phép (77 / 60 km/h), đã vi phạm điều 11, 12 của Luật giao thông đường bộ Việt Nam.
Hành vi của bị cáo Trần Tiến D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến an toàn và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ra tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân khi tham gia giao thông đường bộ. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra bị cáo có nhân thân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp.
Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 BLHS là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng liên quan đã được xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo và gia đình bị hại đã tự thương lượng về dân sự. Gia đình bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
2. Xử phạt bị cáo Trần Tiến D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 16/10/2020
3. Tạm giam bị cáo Trần Tiến D 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến D phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra công an H. HM; - Chi cục THADS H.HM; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Linh |