vanban.org

Bản án 38/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 30/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

Xử phạt: Võ Thị Bích T: 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Võ Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2021/HS-ST
Ngày 30/8/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Phước Công;

Ông Trịnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 7

năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2021/QĐXXST-HS ngày 05

tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Võ Thị Bích T, sinh năm 2001, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký

hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không;

trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo

Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị

Ngọc Đ;

Tiền án, tiền sự: chưa;

Bị bắt tạm giam từ ngày 15/3/2021 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Phạm Thị T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp 3, xã N, huyện T, tỉnh Đ;

vắng mặt.

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ; vắng mặt;

- Bà Phạm Ngọc T; vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn T; vắng mặt;

- Ông Nguyễn Văn B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2020, nhận được tin báo của quần chúng nhân

dân, Công an xã M kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an huyện C, bắt quả tang tại nhà của Nguyễn Quốc M thuộc ấp M, xã M, huyện C, có Võ Thị Bích T tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần Jean ngắn màu xanh của T đang mặc có 01 hộp bằng kim loại màu đen nhãn hiệu SENATOR, bên trong hộp có 02 bịch nilon chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy) và các vật chứng khác có liên quan. Khi này, T dương tính với ma túy, nên được đưa đi cắt cơn giải độc tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An Giang trong khi chờ quyết định xử lý.

Vật chứng thu giữ: 02 bịch nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng,

01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, 01 xe mô tô biển số 60K8-6005 và 1.960.000 đồng, đang tạm giữ chờ xử lý.

Kết luận giám định số 324/KLGT-PC09(MT) ngày 24/12/2020 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 7,2921 gam.

Ngày 10/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới khởi

tố bị can T để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKSCM ngày 19 tháng 7 năm 2021, Viện kiểm

sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Võ Thị Bích T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa

phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Pháp luật nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua

bán trái phép ma túy dưới mọi hình thức. Hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến sức

khỏe người sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, là

nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật và tội phạm. Cho nên, đề

nghị xử phạt nghiêm bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có

tiền án, tiền sự. Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản

1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06

năm tù.

Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng, đề

nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch

thu, tiêu hủy lượng ma túy cùng vật chứa ma túy; 01 cây kéo bằng kim loại màu

trắng; giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động VIVO màu đen; tịch thu sung

quỹ 01 xe mô tô biển số 60K8-6005.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng

của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ

tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên

tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về

hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Võ Thị Bích T khai nhận đã

thực hiện như cáo trạng viện dẫn.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai

đoạn điều tra; phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản bắt người

phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới lập;

biên bản khám nghiệm hiện trường cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường

kèm theo do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới lập.

Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ khi

bắt quả tang gồm: 02 bịch nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, 01 cây

kéo bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen,

01 xe mô tô biển số 60K8-6005 và số tiền 1.960.000đồng.

Theo Kết luận giám định số 324/KLGT-PC09(MT) ngày 24/12/2020 của

Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, chất tinh thể màu trắng bên trong các bịch nilon thu giữ của bị cáo được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 7,2921 gam.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái

phép chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 7,2921 gam.

Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự,

nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc cất giấu ma túy và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị

cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, ma tuý là chất

gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.

Bị cáo là người thành niên, đang ở tuổi lao động nhưng lại lao vào con

đường nghiện ngập. Để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu do đã sử dụng ma túy. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra

cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo không nghề nghiệp nên không áp

dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm của người liên quan:

- T khai ma túy bị thu giữ là của Cao Minh L, hiện Cơ quan điều tra chưa

làm việc được, đã thông báo truy tìm L, tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù

hợp quy định pháp luật.

Nguyễn Quốc M có mối quan hệ là bạn bè với L và T, được L cho ma túy

để sử dụng, M không rủ rê từ trước và cũng không thu lợi, nên không quy kết M

tổ chức hay chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, hành vi sử

dụng ma túy của M là vi phạm pháp luật, nên chuyển xử lý hành chính là phù

hợp quy định pháp luật.

- Nguyễn Phương T và H (không rõ họ, địa chỉ), có hành vi sử dụng trái

phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, hiện đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra chưa làm

việc được, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là vật cấm lưu hành; 01

cây kéo là vật, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và không còn giá

trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy và cây kéo này theo điểm c

khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động VIVO và số tiền 1.960.000đồng, bị cáo

không sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, giao trả lại cho bị cáo theo điểm b

khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 biển số 60K8-6005, mặc dù, theo Phiếu trả lời xác minh

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 14/5/2021 của Công an huyện

Chợ Mới, xe biển số 60K8-6005 do bà Phạm Thị T đứng tên chủ sở hữu và

không ghi được ý kiến của bà T; bà T vắng mặt tại địa phương nhiều năm không

liên lạc và không xác định được địa chỉ ở đâu; từ trước đến nay không có báo

mất trộm xe biển số 60K8-6005. Tuy nhiên, xe đã bị đục số sườn, số khung

không đủ điều kiện để lưu hành; cơ quan công an đã thông báo tìm chủ sở hữu

nhưng không có người nhận. Vì vậy, cần tịch thu sung quỹ theo điểm a khoản 2

Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng

cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bích T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”;

Xử phạt: Võ Thị Bích T: 05 (năm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt

tạm giam, ngày 15/3/2021 (ngày mười lăm, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1

Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số: 324/KLGĐ-

PC09(MT) ngày 24 tháng 12 năm 2020) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa và Đặng Hữu Thọ. Bên trong có 01 (một) hộp kim loại hình vuông màu xanh – đen có chữ “SENATOR” và mẫu M1, M2 còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 7,1535gam (bảy phẩy một năm ba năm gam);

+ 01 (một) cây kéo;

- Giao trả cho bị cáo Võ Thị Bích T: 01 (một) điện thoại; số tiền

1.960.000 đồng (Bằng chữ: một triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

- Tich thu sung quỹ 01 xe mô tô biển số 60K8-6005.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/8/2021 giữa Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an huyện Chợ Mới với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Võ Thị Bích T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9

Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ