vanban.org

Bản án 38/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Trần Đức M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Về án phí: Bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HS-PT
Ngày: 31-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Thắm.

Bà Võ Thị Hồng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Trần Đức M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Đức M, sinh năm 2001 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn 1, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân N, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 30/4/2020, Trần Đức M cùng Đỗ Minh T ở cùng địa phương và một số người bạn tổ chức nhậu, uống bia rượu tại nhà của M, đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì nghỉ. Sau đó, cả nhóm rủ nhau đến thị trấn P, huyện T uống cà phê. Khi đi Trần Đức M (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 77H1 - 331.XX có dung tích xi lanh 149,8cm3 chở T. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày, khi đi đến đoạn Km 38+100, QL19 thuộc thôn P, xã T, huyện T, M điều khiển xe mô tô đi trên làn đường xe cơ giới, phần đường phía bắc QL19, với vận tốc khoảng 60 đến 70 km/h. Do bị chói nắng làm hạn chế tầm nhìn, nên M dùng tay trái che mắt và điều khiển xe mô tô bằng một tay phải, lúc này M phát hiện ông Nguyễn Văn P đang dắt xe đạp đi qua đường theo hướng từ bắc sang nam, đã đi đến gần giữa tim đường. M bỏ tay trái xuống điều khiển xe bằng hai tay để né tránh, nhưng do khoảng cách gần xử lý không kịp, đã để bánh trước xe mô tô tông vào giữa thân xe đạp của ông P, xảy ra tai nạn. Hậu quả làm ông P chết tại chỗ do chấn thương sọ não, vỡ sọ, M và T bị thương nhẹ, hai phương tiện hư hỏng.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị miễn xét.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đức M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020, bị cáo Trần Đức M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Đức M khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/4/2020, bị cáo Trần Đức M không có giấy phép lái xe theo quy định, đã sử dụng rượu bia, có nồng độ cồn (0,522 miligam/01 lít khí thở) vượt quá mức quy định, điều khiển xe mô tô biển số 77H1-331.09 tham gia giao thông. Khi đi đến đoạn Km 38+100, QL19 thuộc thôn P, xã T, huyện T, do thiếu sự quan sát, nên bị cáo M đã để xe mô tô do mình điều khiển tông vào ông Nguyễn Văn P đang dắt xe đạp đi bộ qua đường, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả, ông P chết do chấn thương sọ não, vỡ sọ. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Đức M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác và trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 24 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ, tình tiết gì mới để giảm nhẹ hình phạt cho mình. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 thì kháng cáo của bị cáo Trần Đức M không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

3

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đức M 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ