vanban.org

Bản án 38/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa L đƣợc ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Duy P (theo giấy chứng nhận kết hôn số 76/2017 do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp ngày 17/4/2017).

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoa L có trách nhiệm giao con chung là cháu T, sinh ngày 06/10/2017 cho anh Huỳnh Ngọc Duy P tiếp tục nuôi dƣỡng. Chị Nguyễn Thị Hoa L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng. Thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa L đƣợc ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Duy P (theo giấy chứng nhận kết hôn số 76/2017 do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp ngày 17/4/2017).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 38/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 05-4-2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Văn Nhung;

Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1045/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2021/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoa L, sinh năm 1997; thƣờng trú: Thôn B, xã C, thị xã R, tỉnh K, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Ngọc Duy P, sinh năm 1995; thƣờng trú: 8/21, khu phố Đ, phƣờng D, thành phố A, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Ngọc Duy P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng. Việc kết hôn của chị L và anh P là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.

Sau khi kết hôn, chị L và anh P cùng sống tại gia đình nhà chồng. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau thì đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh P không lo làm kinh tế, thƣờng xuyên uống rƣợu, rồi về nhà đánh đập chị, đuổi chị ra khỏi nhà. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị Hoa L yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Duy P.

Về con chung: Quá trình chung sống anh, chị có với nhau 01 con chung là cháu T, sinh ngày 06/10/2017. Hiện con chung đang sinh sống cùng với anh P. Chị L yêu cầu sau ly hôn con chung sẽ do anh P trực tiếp nuôi dƣỡng và chị cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hoa L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Huỳnh Ngọc Duy P: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, yêu cầu anh P có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L nhƣng anh P không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu anh P tham gia hòa giải vào ngày 03/02/2021 nhƣng anh P vắng mặt không có lý do, đồng thời chị L có đơn từ chối hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu anh P tham gia phiên tòa vào ngày 12/3/2021 và ngày 05/4/2021 nhƣng anh P vẫn vắng mặt không có lý do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 12/3/2021 và ngày 05/4/2021 nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoa L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Huỳnh Ngọc Duy P đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 12/3/2021 và ngày 05/4/2021 nhƣng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa L và anh Huỳnh Ngọc Duy P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Dĩ An, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng vào ngày 17/4/2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 76/2017 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, chị L xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do anh P không lo làm kinh tế, thƣờng xuyên uống rƣợu rồi đánh đập chị, vợ chồng ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập anh P đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhƣng anh P không đến. Điều này chứng tỏ bản thân anh P cũng không muốn vợ chồng có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn chị L xác định không còn tình cảm với anh P, hiện anh, chị đang ly thân. Nhƣ vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống anh, chị có 01 con chung là cháu T, sinh ngày 06/10/2017. Con chung đang sống cùng với anh P. Việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét thấy, trong suốt quá trình tố tụng anh P không có ý kiến thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con chung hay không nhƣng trong khoảng thời gian hai vợ chồng không sống chung với nhau thì con chung do anh P trực tiếp nuôi dƣỡng, để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu T, đồng thời chị L cũng xác định anh P nuôi cháu T thì cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, nhƣ vậy cần tiếp tục giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dƣỡng. Do đó, chị L yêu cầu anh P trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dƣỡng: Chị Nguyễn Thị Hoa L tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, đây là sự tự nguyện của chị L nên cần ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hoa L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hoa L phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dƣỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa L đƣợc ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Duy P (theo giấy chứng nhận kết hôn số 76/2017 do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh B cấp ngày 17/4/2017).

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hoa L có trách nhiệm giao con chung là cháu T, sinh ngày 06/10/2017 cho anh Huỳnh Ngọc Duy P tiếp tục nuôi dƣỡng. Chị Nguyễn Thị Hoa L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng. Thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị Hoa L có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con. Anh Huỳnh Ngọc Duy P không có quyền cản trở chị Nguyễn Thị Hoa L thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Kể từ ngày anh Huỳnh Ngọc Duy P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Nguyễn Thị Hoa L không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nêu trên thì chị Nguyễn Thị Hoa L còn phải thanh toán cho anh Huỳnh Ngọc Duy P tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị Hoa L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hoa L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng nuôi con, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0049041 ngày 26/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Nguyễn Thị Hoa L còn phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ