vanban.org

Bản án 38/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử : Anh Lưu Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể: Anh Lưu Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có hai con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử : Anh Lưu Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN TH O ,TP. HÀ NỘI
Bản án số: 38 /2021/HNGĐ -ST
Ngày: 08/12/2021
V/v: Ly hôn.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Khải Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Lê Huy Tr ng; ng Lê Quang Ng c Thư ký ghi biên bản phiên toà : ng Đ Văn Thường, Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát tham có công văn số 01/TB- VKS ngày 06/12/2021 về việc không tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021 tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Th O - TP Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 94/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2021 về: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXX-ST ngày 13 tháng 10 năm 2021; Thông báo mở lại phiên tòa số 15 ngày 25/11/2021 giữa các đương sự: + Nguyên đơn: Anh Lưu Văn T, Sinh năm 1982. Trú tại: xóm Đ, xã B, huyện Th O, Thành phố Hà Nội. + Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, Sinh năm 1986.Trú tại: xóm Đ, xã B, huyện Th O, Thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa các đương sự có m t. Tham gia phiên tòa còn có bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1959 là m đ của anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và lời khai tiếp theo của anh Lưu Văn T thì vụ án có nội dung như sau :

Ngày 22 tháng 9 năm 2006 tôi đăng ký kết hôn v i cô Nguyễn Thị T1, sinh năm 1986 là người Xã Thanh Cao, huyện Th O, Hà Nội, sau khi kết hôn hai gia đình cùng chúng tôi tổ chức lễ cư i sau ngày cư i cô T1 về chung sống v i tôi và ở tại nhà của bố m tôi, thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thu n. Về nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, không ai bảo được ai, việc ai người đó làm, cô T1 có nhiều biểu hiện ngoại tình quan hệ v i người đàn ông khác từ đó mâu thu n ngày càng l n, chúng tôi đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay không quan hệ v i nhau nữa. Nay xét tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung: 1. Lưu Duy H, sinh ngày 27/6/2007. 2. Lưu Huyền Tr, sinh ngày 18/5/2011, hiện cả hai con đang do cô T1 nuôi. Khi ly

hôn anh đề nghị cho anh nuôi 01 con và chị T1 nuôi 01 con, không bên nào phải

trợ cáp nuôi con, nếu không thì anh nuôi cả hai, không yêu cầu trợ cấp nuôi con,

trường hợp chị T1 xin nuôi cả hai thì anh c ng đồng ý và trợ cấp nuôi con theo

pháp luật. Về tài sản chung, công sức, công nợ chung của vợ chồng: Vợ chồng tôi không có và không yêu cầu giải quyết. Tại bản tự khai ngày 12/10/2021 chị Nguyễn Thị T1 trình bày;

Ngày 22/9/2006 tôi đăng ký kết hôn v i anh Lưu Văn T tại UBND xã B, sau ngày cư i tôi về chung sống v i anh T ngay và ở tại nhà của bố m chồng, trong thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, về sau thì mâu thu n do tính tình không hợp, m c dù không đánh cãi chửi nhau nH tình cảm vợ chồng phai nhạt, không chia se v i nhau, việc ai người ấy làm không có sự bàn luận gì. Tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, chúng tôi đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay không quan hệ v i nhau nữa. Nay anh xin ly hôn quan điểm của tôi là tôi không đồng ý vì tôi thương các con tôi, tôi không muốn các con tôi chứng kiến bố m ly hôn, ảnh hưởng đến T1 lý và cuộc sống của con tôi vì con của tôi v n còn nhỏ. Về con chung có hai con đều đang ở v i tôi, nếu anh cố tình ly hôn thì nguyện v ng cao nhất là xin nuôi cả hai con yêu cầu anh trợ cấp nuôi con theo pháp luật, về tài sản chung, công sức, công nợ: không có và không yêu cầu giải quyết. Ngày 13/10/2021 chị T1 có đơn xin hủy bản tự khai và không thừa nhận các chứng cứ về việc ngoại tình do anh T trình tại tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện, bị đơn có quan điểm không đồng ý ly hôn vì các tin nh n mà anh T xuất trình tại Tòa án về việc ngoại tình của chị thì chị cho rằng chị là nạn nhân nH không muốn pháp luật can thiệp, nếu tòa giải quyết ly hôn thì chị xin nuôi cả hai con và yêu cầu anh T trợ cấp nuôi con m i tháng là 5.000.000đồng. Về các vấn đề khác không yêu cầu giải quyết. Bà Th là m anh T trình bầy bà thừa nhận giữa anh T và chị T1 có nhiều mâu thu n không chung Th v i nhau nH vì sợ ảnh hưởng đến các cháu nên bà đề nghị về phía anh T muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm cho đến bao giờ các con anh T h c hết cấp ba thì bà đồng ý cho ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định [1] Về tố tụng: Anh T và chị T1 trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thu n, anh T đã khởi kiện xin ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành yêu cầu các đương sự tự khai, xuất trình chứng cứ và hòa giải không thành, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử thì do tình hình dịch bệnh toàn bộ cán bộ Tòa án Th O phải cách ly y tế . Cho đến ngày 25/11/2021 Tòa án Thông báo mở lại phiên tòa và tiến hành tống đạt cho các đương sự, tại phiên tòa hôm nay các đương sự có m t. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại tại điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lưu Văn T và chị Nguyễn Thị T1 chung sống v i nhau từ ngày 22/9/2006, trên cơ sở tự nguyện của hai bên, đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền, nên đây là hôn nhân hợp pháp được Nhà nư c công nhận, Trong quá trình chung sống vợ chồng anh T phát sinh nhiều mâu thu n Về nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, không ai bảo được ai, việc ai người đó làm, từ đó mâu thu n ngày càng l n, cả anh và chị đều xuất trình chứng cứ tố cáo nhau về việc ngoại tình, việc anh T xuất trình chứng cứ phía chị T1 không thừa nhận và cho rằng chỉ là nạn nhân nH không yêu cầu pháp luật can thiệp, đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay không quan hệ v i nhau nữa. Nay anh T có nguyện v ng xin ly hôn, chị T1 thừa nhận có nhiều mâu thu n nH không đồng ý ly hôn chỉ vì thương con không muốn các con chứng kiến bố m ly hôn.Tòa xét thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Lưu Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1. [3] Về con chung: có hai con:

1. Lưu Duy H, sinh ngày 27/6/2007.

2. Lưu Huyền Tr, sinh ngày 18/5/2011, hiện cả hai con đang do chị T1 nuôi. Tại phiên tòa chị T1 xin nuôi cả hai con và yêu cầu anh trợ cấp nuôi con m i tháng 5.000.000đồng cho cả hai con lần lượt cho đến khi trưởng thành, phía anh T đồng ý để chị T1 nuôi cả hai con và đồng ý trợ cấp nuôi con theo yêu cầu cuả chị T1, xét cần công nhận sự thỏa thuận của anh chị. Về tài sản chung, công sức, công nợ chung của vợ chồng: do các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí : Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51,53, 56, 81, 82;83 Luật Hôn nhân gia đình , Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử : Anh Lưu Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể:

Anh Lưu Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có hai con:

1. Lưu Duy H, sinh ngày 27/6/2007.

2. Lưu Huyền Tr, sinh ngày 18/5/2011, hiện cả hai con đang do chị T1 nuôi. Nay thỏa thuận tiếp tục giao cả hai con cho chị T1 nuôi, anh T trợ cấp nuôi cả hai con m i tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng)(m i con 2.500.000đ/tháng) thời hạn kể từ tháng 01/2022 cho đến khi các con lần lượt trưởng thành.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: Tòa không xem xét giải quyết.

Về án phí : anh Lưu Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp thể hiện tại Biên lai số: 0053570 ngày 13 tháng 7 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Th O, TP Hà Nội. Và phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí về trợ cấp nuôi con.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có m t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 08/12/2021.

Cỡ chữ