- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!!!!!HUYỆN!H! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 38/2021/HNGĐ-ST Ngày 07 - 7 - 2021 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!H,!TỈNH!ĐỒNG!THÁP!
-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lâm Quốc Sách.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
2. Bà Lê Kim Tuyền.
- Thư"ký"phiên"tòa: Ông Dương Thành Tâm, là thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"H,"tỉnh"Đồng"Tháp"tham"gia" phiên"tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 tháng 6 năm 2021 và ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2021/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
1."Nguyên"đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ cư trú hiện nay: ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. (Có đơn xin xét xử vắng mặt – theo dấu bưu điện ngày 30/6/2021)
2."Bị"đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. (Đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
-"Trong"quá"trình"tố"tụng"nguyên"đơn"chị"Trần"Thị"H"trình"bày:!Vào năm 2011 chị và anh Trần Văn P do hai bên gia đình mai mối đã đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, sau khi cưới chị và anh P sống bên gia đình anh P, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Trần Thị Ngọc D, sinh ngày 04/7/2012 (Hiện đang sống với chị), sau đó đến đầu năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau và anh P thuyền xuyên đánh chị dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên chị dẫn con về nhà cha mẹ ruột ở đến nay và vợ chồng cũng ly thân kể từ đó, trong thời gian ly thân không có gặp nhau để hàn gắn tình cảm, nay xét thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn P.
+ Về con chung có 01 người: Tên Trần Thị Ngọc D, sinh ngày 04/7/2012 (Hiện đang sống với chị), chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-"Bị"đơn"anh"Trần"Văn"P,"không"có"ý"kiến"gửi"Tòa"án,"mặc"dù"đã"được" tống"đạt"các"thủ"tục"tố"tụng"hợp"lệ.
-"Phát"biểu"của"Kiểm"sát"viên"tại"phiên"tòa:
* Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng quy định của pháp luật.
* Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Trần Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện H là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình sống chung chị H và anh P phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân anh P không chăm lo gia đình, thường xuyên đánh chị H. Đối với anh P đã được Tòa án đã triệu tập để tham gia các phiên hòa giải nhưng anh P nhiều lần vắng mặt không có lý do và không nhận các văn bản của Tòa án, điều đó chứng tỏ không có thiện chí để đoàn tụ. Đồng thời, chị H và anh P ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, anh chị không cùng nhau khắc phục, mà để việc ly thân kéo dài. Như vậy, chứng tỏ về tình cảm giữa chị H và anh P đã mâu thuẩn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cho nên chị H yêu cầu ly hôn với anh P là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh P.
+ Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thị Ngọc D, sinh ngày 04/7/2012, cháu D từ khi chị H và anh P không còn sống chung và hiện nay đều do chị H chăm sóc và nuôi dưỡng, do đó để ổn định việc sinh hoạt của cháu cũng như nguyện vọng của cháu muốn sống với mẹ cho nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị H chưa có văn bản yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh Trần Văn P không có văn bản ghi ý kiến nên không đặt ra để xem xét.
* Không yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và nguyên đơn, bị đơn đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn P đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Trên cơ sở mai mối và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 26/12/2011, nên quan hệ vợ chồng của chị Trần Thị H và anh Trần Văn P là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo chị H khai là không hợp nhau, thường xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, mà bắt đầu là do lỗi của anh P trong cư xử không tế nhị với vợ, thiếu sự chăm lo gia đình, nhậu nhẹt bê tha về đánh chữi vợ, chị H đã hết lời khuyên răn, nhưng vẫn không được, nên chị H cùng con bỏ ra đi về nhà cha mẹ ruột sống kể từ đầu năm 2020 đến nay. Nay chị H xin được ly hôn với anh P; còn anh P thì không có ý kiến tại tòa. Hội đồng xét xử, nhận thấy: Tình cảm vợ chồng của chị H với anh P không còn, cụ thể qua các lần hòa giải Tòa án đã động viên chị H về đoàn tụ lại với anh P, nhưng chị H kiên quyết ly hôn, do đó xét thấy mặc dù không có ý kiến của anh P, nhưng thực tế cuộc sống vợ chồng của chị H, anh P đã có mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh P.
- Về quyền, nghĩa vụ nuôi con chung: Theo chị H khai thì có 01 con chung với anh P, tên Trần Thị Ngọc D, sinh ngày 04/7/2012 và chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, mặc chưa có ý kiến của anh P, nhưng thực tế cháu D hiện nay đang sống với chị H và việc nuôi dưỡng con mặc dù có sự thống nhất thỏa thuận của cha, mẹ về người trực tiếp nuôi, nhưng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định: “...nếu"con"từ"đủ"07"tuổi"trở"lên"thì"phải"xem"xét"nguyện"vọng" của"con...”, như vậy đối với cháu D sinh ngày 04/7/2012 tính đến nay đã 09 tuổi và theo nguyện vọng của cháu D tại Bản khai ngày 10/5/2021 thì “ba"với"mẹ"ly"hôn"con" sống"với"mẹ”, do đó việc chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D là phù hợp với nguyện vọng cháu D và phù hợp với pháp luật, nên chấp nhận giao cháu D cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu D.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H chưa yêu cầu, nên anh P chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, nợ chung: Không có, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt vấn đề xem xét.
[3]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm, và được trừ vào khoảng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BI/2019/0013010 ngày 03/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vậy chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm; Anh P không phải nộp án phí.
Vì"các"lẽ"trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí.
Tuyên"xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị H được ly hôn với anh Trần Văn P.
2. Về quyền, nghĩa vụ nuôi con chung: Chị Trần Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Thị Ngọc D, sinh ngày 04/7/2012 (theo nguyện vọng của cháu D và hiện đang sống với chị H); Anh Trần Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Trần Thị H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh Trần Văn P chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào khoảng tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: BI/2019/0013010 ngày 03/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vậy chị Trần Thị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm; Anh Trần Văn P không phải nộp án phí sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Trần Thị H, bị đơn anh Trần Văn P có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"
!
| -"Đương"sự:" -"VKSND"huyện"H;" -"TAND"tỉnh"Đồng"Tháp;" -"Chi"cục"THADS"huyện"H;" -"UBND"xã"T;" ! -"Lưu"hồ"sơ"vụ"án." ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! (Đã!ký)! ! Lâm!Quốc!Sách! |