vanban.org

Bản án 38/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thùy L đối với anh Ngô Văn T.

Chị Dương Thùy L được ly hôn với anh Ngô Văn T; Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Hữu V, sinh năm: 1999 và Ngô Quỳnh A, sinh năm: 2009. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thùy L đối với anh Ngô Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7- 2021
V/v Tranh chấp về ly hôn, nuôi con;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Tư;

2. Bà Võ Thị Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 165/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thùy L, sinh năm: 1978. Trú tại: Số 24 hẻm 6 đường N, ấp A, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm: 1976. Trú tại: Số 24 hẻm 6 đường N, ấp A, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thùy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1998, có đăng lý kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Đông, huyện Hòa Thành (nay là thị xã Hòa Thành), tỉnh Tây Ninh vào năm 2011. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẩn do không tin tưởng nhau nên không có hạnh phúc; anh chị không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên xin ly hôn với anh T;

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Hữu V, sinh năm: 1999 và Ngô Quỳnh A, sinh năm: 2009. Nay xin ly hôn, chị L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Ngô Quỳnh A, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Ngô Hữu V đã thành niên nên chị không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn – anh Ngô Văn T vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T trình bày ý kiến:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác định lời trình bày của chị L là đúng, anh chị chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, anh T trình bày vợ chồng có phát sinh mâu thuẩn và hiện nay anh chị không còn sống chung đã lâu nên chị L có yêu cầu xin ly hôn với anh thì anh đồng ý. Tuy nhiên, do anh đi làm xa nên anh không đến tòa được.

Về con chung: Có 02 con chung như chị L trình bày. Con chung đồng ý sống chung với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại di n Vi n ki m sát nhân dân thị xã Hòa Thành phát bi u ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử;

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thùy L đối với anh Ngô Văn T;

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Hữu V, sinh năm: 1999 và Ngô Quỳnh A, sinh năm: 2009. Giao con chung tên Ngô Quỳnh A cho chị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Ngô Hữu V đã thành niên nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình: Chị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Anh Ngô Văn T và chị Dương Thùy L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh chị là phù hợp quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thùy L và anh Ngô Văn T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1998, có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 4 năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Đông, huyện Hòa Thành (nay là thị xã Hòa Thành), tỉnh Tây Ninh (bút lục số 03). Quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị L và anh T thống nhất xác nhận anh chị chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẩn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên anh chị không còn chung sống từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị Dương Thùy L có yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn T thì anh T đồng ý.

Do đó, có căn cứ để xác định tình nghĩa vợ chồng giữa chị L và anh T không còn, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; cả hai không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thùy L đối với anh Ngô Văn T là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Hữu V, sinh năm: 1999 và Ngô Quỳnh A, sinh năm: 2009. Xét thấy con chung Ngô Quỳnh A đang sống chung với chị L và có nguyện vọng tiếp tục được sống chung với chị. Do đó để con chung của anh chị có điều kiện sống ổn định, đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần sau khi anh chị ly hôn nên giao con chung tên Ngô Quỳnh A cho chị L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp; ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Ngô Hữu V đã thành niên nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T được quyền thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết;

Xét thấy đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết đối với vụ án là phù hợp với tình tiết, nội dung của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51; 56; 58 và Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thùy L đối với anh Ngô Văn T.

Chị Dương Thùy L được ly hôn với anh Ngô Văn T;

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Ngô Hữu V, sinh năm: 1999 và Ngô Quỳnh A, sinh năm: 2009.

Tuyên giao con chung tên Ngô Quỳnh A cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Ngô Hữu V đã thành niên nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T được quyền thăm nom con chung theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết;

4. Về án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình:

Chị Dương Thùy L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009778 ngày 26-3-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị L đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị L, anh T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ