vanban.org

Bản án 38/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Đào Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Xuân C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/9/2019. 3/ Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Xuân Chính - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Đào Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HS-ST
Ngày: 22-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Hùng Dương;

2/ Ông Đặng Minh Lý.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Xuân C, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 87/60, đường B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số 26, đường số 28, phường M, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh. Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân C và bà Lê Thị Bạch T; có vợ Mạch Như Q và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/3/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số 670/QĐ-UBND về hành vi sử dụng chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/9/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người chứng kiến: Nguyễn Ngọc N, Võ Minh T và Nguyễn Tấn Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Xuân C là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 02/9/2019, C trên đường đi đến nhà bạn là Nguyễn Ngọc Nhi, sinh năm 1993, tại địa chỉ số 1389, đường Cách Mạng Tháng Tám, tổ 9, khu 7, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng. Thực hiện ý định trên, C điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH 150I, màu Đen, biển số 59D2 – 247.61 đi đến khu vực Bến xe An Sương, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực bến xe An Sương, C tìm và gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (Không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú). Lúc này, C hỏi người đàn ông: “Có bán ma túy đá không?” thì người đàn ông trả lời: “Có, mua bao nhiêu?” thì C nói: “Mua 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng”. Cùng lúc, C lấy 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng đưa cho người đàn ông thì người đàn ông lấy 01 (Một) gói ny lon miệng kéo dính có chứa ma túy đá ra đưa cho C. Sau khi mua được gói ny lon chứa ma túy đá từ người đàn ông này, C bỏ vào túi quần trước bên phải của C rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH 150I, màu Đen, biển số 59D2 – 247.61 chạy đến bến xe Bình Dương thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Tại đây, C lấy điện thoại và gọi qua Messenger kêu Nhi thì khoảng 10 phút sau, Nhi và chồng là Võ Minh Tuấn ra đón C. Sau đó, Nhi và Tuấn dẫn C đến nhà người bạn tên là Nguyễn Tấn Đức cư trú tại số 1011/15/2, đường Lê Hồng Phong, tổ 54, khu 4, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để chơi. Tại đây, cả nhóm ngồi chơi với nhau, sau đó, C lấy một ít ma túy vừa mua được ra cho cả nhóm cùng sử dụng. Số ma túy còn lại, C cất giấu vào túi quần phía trước bên phải của C. Khi cả nhóm vừa sử dụng ma túy xong thì Tổ tuần tra thuộc Công an phường Phú Thọ trên đường tuần tra thấy nghi vấn, tiến hành kiểm tra thì phát hiện C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bên trong túi quần trước bên phải của C nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 (Một) gói ny lon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH 150I, màu Đen, biển số 59D2 – 247.61; 01 (Một) bình nhựa dùng để sử dụng ma túy; 01 (Một) hộp quẹt lửa. Cùng ngày 02/9/2019, Công an phường Phú Thọ chuyển hồ sơ vụ việc, đối tượng và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một để điều tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 02/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 534, trưng cầu giám định chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (Một) gói ny lon miệng kéo dính đã thu giữ của Đào Xuân C, trọng lượng khi mở niêm phong là 2,4796 gam.

Ngày 09/9/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 672/MT-PC09, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,4796 gam, loại Methamphetamine; khối lượng sau giám định là 2,3992 gam loại Methamphetamine. Đối với 01 (Một) gói ny lon miệng hàn kín, bên trong có chứa ma túy, khối lượng sau giám định là 2,3992 gam, loại Methamphetamine, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi (Không xác định rõ họ tên, địa chỉ cư trú) đã bán ma túy cho Đào Xuân C tại khu vực bến xe An Sương, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra C đều khai nhận không rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để làm rõ và xử lý.

Đối với Nguyễn Ngọc Nhi, Võ Minh Tuấn, Nguyễn Tấn Đức đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một ra quyết định xử phạt hành C số 91 ngày 09/9/2019 với số tiền 750.000 đồng và các quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 471, 473 ngày 20/9/2019 đối với Nguyễn Tấn Đức và Võ Minh Tuấn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn Honda SH 150I, màu Đen, biển số 59D2 – 247.61 do Đào Xuân C đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy của C, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho C.

Cáo trạng số 65/CT-VKS-HS ngày 11/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Đào Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đào Xuân C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định là 2,3992 gam; 01 (một) bình nhựa và 01 (một) hột quẹt là tang vật của vụ án.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH 150I, màu Đen, biển số 59D2 – 247.61 do Đào Xuân C đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Huawei, số máy 518129; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Wiko màu cam đen, không sáng màn hình và 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân C là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 55 phút, ngày 02/9/2019, tại nhà số 1011/15/2, đường Lê Hồng Phong, tổ 54, khu 4, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Đào Xuân C đã bị Tổ tuần tra thuộc Công an phường Phú Thọ kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng là 2,4796 gam, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng. Do vậy hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; cha của bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nhẹ so với hành vi phạm tội của bị cáo, cần có mức hình phạt nặng hơn để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đào Xuân C, cán bộ niêm phong Nguyễn Phước Toàn và hình dấu đỏ công an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 2,3992 gam theo kết luận giám định số 672/MT-PC09 ngày 09/09/2019 ; 01 (một) bình nhựa và 01 (một) hột quẹt là tang vật và công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda SH 150i, màu đen, biển số 59D2-247.61, số khung: RLHKF1437FY037171, số máy: KF14E0137244; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Huawei, số máy 518129; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Wiko màu cam đen, không sáng màn hình và 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân C là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 46, 47 và 48 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Đào Xuân C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Xuân C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/9/2019.

3/ Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đào Xuân C, cán bộ niêm phong Nguyễn Phước Toàn và hình dấu đỏ công an phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma túy, trọng lượng sau giám định 2,3992 gam theo kết luận giám định số 672/MT-PC09 ngày 09/09/2019 ; 01 (một) bình nhựa và 01 (một) hột quẹt.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng hiệu Honda SH 150i, màu đen, biển số 59D2-247.61, số khung: RLHKF1437FY037171, số máy: KF14E0137244; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Huawei, số máy 518129; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Wiko màu cam đen, không sáng màn hình và 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Đào Xuân C.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 084.20 ngày 11/02/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ