- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HS-ST Ngày: 25-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quỹ
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Ngọc T, sinh năm 1986 tại tỉnh Nam Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số xx, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Ngọc L và Vũ Thị M; vợ: Đoàn Thị Kim O; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27-9-2016 Công an huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi xâm phậm sức khỏe người khác; hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đại Á, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Văn H, có quen biết với Trần Quốc T. Ngày 03-8-2017, T cho anh H vay 100.000.000 đồng với lãi suất 2.000 đồng/1 triệu/1 ngày, anh H viết giấy vay nợ T số tiền trên. Tháng 10-2017, T tiếp tục cho anh H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày. Đến tháng 3-2018, anh H đã trả được cho T số tiền lãi theo thỏa thuận số tiền gốc thì anh H chưa thanh toán cho T. Số tiền lãi anh H chuyển qua tài khoản có số: 111572666 mở tại ngân hàng VP Bank của T vào các ngày 10, 20 hàng tháng. Cuối tháng 3-2018, T tiếp tục cho anh H vay số tiền 145.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Từ thời điểm này Anh H không còn khả năng trả tiền gốc và lãi cho T nữa nên đến ngày 23-7-2018 anh H viết cho T giấy vay chốt nợ số tiền 350.000.000 đồng (do lâu ngày không trả tiền lãi nên T và H thống nhất làm tròn số tiền nợ).
Sau đó, T nhiều lần gọi điện cho H để đòi tiền nhưng anh H đều xin khất nợ. Tối ngày 22-3-2019 T gọi điện cho anh H, hai bên thống nhất số tiền lãi anh H nợ T từ tháng 3-2018 đến tháng 3-2019 là 55.000.000 đồng, anh H đặt vấn đề vay thêm của T 100.000.000 đồng không lãi suất để kinh doanh và hẹn sẽ trả toàn bộ số tiền gốc, lãi cho T trong vòng 2 tháng. T đồng ý và hẹn gặp anh H vào sáng ngày 23-3-2019 tại thành phố Nam Định. Ngoài ra qua điện thoại, cả hai thỏa thuận T sẽ cho H mượn ô tô đề cầm cố lấy số tiền 500.000.000 đồng, coi như 400.000.000 đồng là số tiền H đã trả nợ cho T, còn 100.000.000 đồng T sẽ cho H vay để kinh doanh. Sau đó, T gọi điện cho Trần Văn P, sinh năm 1985, trú tại: xxx, xã M, thành phố N là chủ quán cầm đồ T tại số xxx, xã L, thành phố N để làm thủ tục cầm xe. P sẽ không phải thanh toán số tiền cho H và P không biết số tiền anh H vay T, T sẽ chủ động thanh toán cho H nên P đồng ý.
Khoảng 08 giờ sáng ngày 23-3-2019, T hẹn gặp anh H tại quán cà phê số xx, phường N, thành phố N và rủ Phạm Ngọc K, Đặng Ngọc T đi cùng đến gặp H. T điều khiển xe ô tô Nissan Navara màu cam, BKS 29H-xxx (T khai đây là xe ô tô của công ty sơn JOZPEC, trụ sở tại cụm công nghiệp Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội bàn giao T quản lý, sử dụng, vận chuyển sơn) chở T và K. T nói với K và T: Do H nợ tiền lâu ngày chưa trả nên T mượn chiếc ô tô Nissan để đưa cho H đi cầm đồ lấy tiền trả T, H chỉ viết giấy cầm cố còn xe ô tô vẫn do T, T, T quản lý, sử dụng và T sẽ dùng giấy cầm đồ xe mục đích làm căn cứ nếu H không trả nợ thì sẽ tố cáo H lừa đảo chiếm đoạt tài sản, K và T đồng ý. Sau đó, T giao chìa khóa ô tô Nissan cho anh H và bảo anh H mang ô tô ra cửa hàng của P đề làm thủ tục cầm đồ, khi đó mọi giấy vay nợ của anh H với T sẽ bị hủy, không còn giá trị. Khi anh H điều khiển xe ô tô Nissan đi, do T thấy không có đủ 100.000.000 đồng để cho anh H vay thêm nên T đã gọi điện cho P và Bảo P: Khi anh H đến thì chỉ viết giấy cầm đồ xe ô tô cho H với giá 460.000.000 đồng, P đồng ý. Ngoài ra, T gọi Trần Đắc T đi xe ô tô Lacceti màu đen, BKS 17A-xxx đến đi cùng cả nhóm. Khi đến quán của P, anh H thấy số tiền cầm đồ chiếc xe ít hơn thỏa thuận với T, anh H biết việc cầm cố chiếc xe Nissan chỉ là hình thức để nếu H không trả nợ cho T thì sẽ bị tố cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên H không cầm cố xe ô tô nữa và hẹn T ra quán nước gầm cầu vượt xóm xx, xã L, thành phố N nói chuyện. T điều khiển xe ô tô Lacceti chở K ra quán nước gặp H, còn T và T vẫn ngồi ở quán cà phê. Tại quán nước, anh H gọi điện cho mẹ là bà Nguyễn Thị T thông báo cho bà T về số tiền anh H nợ T và nhờ gia đình trả tiền nhưng bà T không đồng ý. Anh H đưa điện thoại để T nói chuyện với bà T nhưng bà T vẫn không đồng ý trả nợ cho anh H. Lúc này, anh H tiếp tục đặt vấn đề muốn vay T thêm 100.000.000 đồng để chuộc số đồ cổ đang cầm đồ và bán đi trả nợ T; T từ chối và bảo chỉ cho anh H vay 60.000.000 đồng. Hai bên đôi co chưa thống nhất được nên T gọi T đến giải quyết. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T và T đi taxi đến quán nước, T nói với T về việc anh H không đồng ý mang xe đi cầm đồ và muốn vay thêm tiền. Nghe thấy thế, T bực tức và chửi H: “Mày mượn tiền người ta chưa trả, bây giờ đưa xe cho mày đi cầm đồ mà còn đòi thêm tiền nữa à”. T dùng tay Tm áo kéo anh H ra phía xe ô tô Nissan đang đỗ gần đấy, bắt anh H đi theo cả nhóm đến nơi vắng người qua lại để giải quyết. Anh H không đồng ý và hất tay T ra thì bị T dùng tay tát 01 phát trúng mặt rồi kéo anh H ra phía cốp xe Nissan. T mở cốp xe, ép anh H vào nằm bên trong rồi đóng cốp xe nhốt anh H. Sau đó, T bảo K điều khiển xe ô tô Nisan chở T, T và anh H trong cốp xe đi trước, T một mình điều khiên xe ô tô Lacetti theo sau, mục đích tìm địa điểm vắng người để nói chuyện với anh H thì tất cả đều đồng ý. Khi đến ngã tư đường Trần Huy Liệu – Quốc lộ 10, thành phố Nam Định, T gọi cho Vũ Ngọc T đến đi cùng cả nhóm. T lên xe ô tô Nissan thì được T kể lại vấn đề vay nợ giữa anh H và T. T đồng ý đi cùng cả nhóm và bảo T nếu cho anh H vay thêm thì phải bắt anh H viết giấy mượn xe. Khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, cả nhóm đưa anh H đến một điếm canh đê tại địa phận xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cách cầu vượt xã Lộc Hòa khoảng 10km. Lúc này, T bảo cả nhóm đưa anh H vào trong điếm nói chuyện, đánh cảnh cáo anh H, bắt anh H viết giấy mượn xe và đi cầm xe để nếu sau này đến hẹn anh H không trả tiền thì sẽ dùng giấy tờ trên tố cáo buộc anh H phải trả nợ. Lúc này T vẫn đồng ý cho anh H vay thêm 60.000.000 đồng. T, T, K, T đưa anh H vào trong điếm, còn T vẫn ngồi trên xe. Khi anh H bị giữ trong điếm T yêu cầu anh H viết giấy mượn xe ô tô và mang đi cầm đồ, anh H không đồng ý với yêu cầu của T thì bị T, Th, K dùng tay chân đánh đập, T nhặt một cổ chai thủy tinh đã vỡ giơ lên đe dọa anh H. Do bị đánh, anh H đồng ý viết giấy mượn xe và nói với cả nhóm đưa anh H lên thành phố Nam Định để viết giấy, cả nhóm đều đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T, T, Kh, Th đưa anh H đến khu vực công viên Prato - thành phố Nam Định còn T ra về trước. Tại đây, T đọc cho anh H viết giấy mượn xe ô tô Nissan. Sau đó Th nói với cả nhóm góp tiền cho H vay luôn. Th góp 3.000.000 đồng, mượn của T số tiền 18.000.000 đồng, mượn của Kh số tiền 10.000.000 đồng, mượn của Th số tiền 9.000.000 đồng, tổng cộng là 40.000.000 đồng. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm đưa anh Hải đến quán cầm đồ của P. Khi anh H vào gặp Ph làm thủ tục cầm xe ô tô trị giá 460.000.000 đồng thì Th đưa số tiền 40.000.000 đồng cho Ph để nhờ Ph đưa cho H, với mục đích để camera nhà Ph ghi lại hình ảnh anh H nhận tiền cầm xe làm căn cứ nếu sau này anh H không trả tiền thì sẽ tố cáo anh H đến cơ quan công an. Ph không biết việc anh H bị bắt, giữ và cụ thể số tiền anh H nợ Th nên Ph đồng ý. Anh H viết giấy cầm xe ô tô Nissan cho P với số tiền 460.000.000 đồng và nhận từ P số tiền 40.000.000 đồng. Sau khi làm xong thủ tục cầm cố xe, do biết số tiền 40.000.000 đồng vừa nhận là của Th, chưa đủ với số tiền 60.000.000 mà anh H vay Th nên anh H đã trả lại cho Th. Số tiền 60.000.000 đồng mà anh H vay thêm, Th hứa sẽ chuyển qua tài khoản ngân hàng cho anh H sau, anh H đồng ý và nói với Th sẽ mượn tài khoản khác gửi cho Th vì tài khoản ngân hàng của anh H đã bị quên mật khẩu. Sau đó, mọi người ra về. Ngày 29-3-2019, anh H đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 30-3-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Quốc Th, Đặng Ngọc T, Phạm Ngọc K và Trần Đắc T. Tại Cơ quan điều tra, Th, T, K, T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Về vật chứng được thu giữ trong vụ án:
- Thu khi khám xét nơi ở của Trần Quốc Th: 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Trần Quốc Th, 03 thẻ ATM đều mang tên Trần Quốc Th có số 9704320807868486, 9704050918924122, 9704050758719129, 01 giấy vay tiền có chữ ký của Cao Văn Kh và Trần Quốc Th, 01 bảng kê nộp tiền, 01 bảng thông báo mã số cá nhân mang tên Trần Quốc Th (các đồ vật này xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Trần Quốc Th do bố Th là ông Trần Xuân T được Th ủy quyền nhận thay); 02 giấy vay tiền có chữ ký của Nguyễn Văn H và Trần Quốc Th (Cơ quan cảnh sát điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án).
- Thu khi kiểm tra hiện trường tại điếm canh đê thuộc xóm xx, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định: 01 cổ chai thủy tinh vỡ, 01 cúc áo (Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng).
- Thu khi bắt T: 01 xe ô tô nhãn hiệu Lacetti màu đen, BKS: 17A – 004.83, số khung RLLANF46DBH907534, số máy: F16D3 - 0562772; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô Lacetti, BKS 17A - 004.83, số KC 7258828; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số: DK18/0030368, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 17A - 004.83. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh và trả lại xe ô tô và các giấy tờ trên cho chủ sở hữu là anh Đặng Văn K sinh năm 1981, trú tại: Thôn Ngọc T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
- Thu của Trần Văn P giao nộp: 01 giấy cầm đồ xe ô tô BKS 29H – 128.16 có chữ ký của Nguyễn Văn H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án.
- Thu tại nhà Trần Đắc T do ông Trần Đắc Th (bố của T) giao nộp: 01 ô tô Nissan BKS 29H - xxx, 01 kiểm định xe ô tô BKS 29H - xxx, 01 giấy bảo hiểm xe ô tô BKS 29H - xxx, 01 bản sao đăng ký xe ô tô BKS 29H - xxxx và đăng ký thế chấp (xe ô tô và các giấy tờ này Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng); 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H (Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho H), 01 giấy mượn xe ô tô do Nguyễn Văn H viết (Cơ quan cảnh sát điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án).
Ngày 08-4-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Quốc Th, Đặng Ngọc T, Phạm Ngọc K và Trần Đắc T về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Do Vũ Ngọc T đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định truy nã.
Ngày 25-4-2019, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định giám định tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Văn H. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 72/19/TgT ngày 04-5-2019 của trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh H là 0%. Cơ chế hình thành vết thương: Không xác định được vật tác động gây thương tích.
Ngày 13-9-2019 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã xét xử 04 bị cáo Trần Quốc Th, Đặng Ngọc T, Phạm Ngọc K, Trần Đắc T về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án.
Ngày 02-12-2019 Vũ Ngọc T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và đồng bọn.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07-5-2019, đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn H 11.000.000 đồng, anh H đã nhận tiền và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Trần Quốc Th, Đặng Ngọc T, Phạm Ngọc K và Trần Đắc T. Sau khi Vũ Ngọc T ra đầu thú, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi giấy mời người bị hại là anh Nguyễn Văn H để làm việc về trách nhiệm dân sự của T nhưng hiện anh H đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956, trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình là mẹ đẻ anh H khai: Anh H đã đi làm ăn xa, anh H nhờ bà chuyển lời đề nghị đến cơ quan điều tra là anh H công nhận việc bồi thường dân sự trước đây đã hoàn thành, không đề nghị bồi thường gì thêm và xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với Vũ Ngọc T.
Đối với hành vi cho anh H vay tiền vượt quá lãi suất quy định trong Bộ luật dân sự của Trần Quốc Th không cấu thành tội phạm. Việc xử lý hành chính đối với hành vi này của Trần Quốc Th theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 11 Nghị định số 167/NĐ-CP, hiện nay quy định trên không còn phù hợp nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.
Đối với hành vi dùng tay chân đánh anh H của các đối tượng, do anh H không bị thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe nên không đặt vấn đề xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai lý do bị cáo có hành vi bắt, giữ và đánh để bắt anh Nguyễn Văn H viết giấy mượn xe ô tô để đi cầm cố là do bức xúc việc anh H mượn tiền của Th không trả còn đòi mượn thêm tiền và không làm theo yêu cầu của Th, bị cáo không có mục đích chiếm đoạt tiền của anh H.
Bản cáo trạng số 13/CT-VKSTPNĐ ngày 08 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T từ 03 tháng tù đến 06 tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Khoảng 12 giờ 10 phút đến 14 giờ ngày 23-3-2019, tại khu vực ngã tư Quốc lộ 10 và đường T, thành phố N, xuất phát từ việc vay nợ giữa bị cáo Trần Quốc T và bị hại, vì anh H không có khả năng trả nợ cho bị cáo T nhưng lại muốn vay tiền tiếp, để đảm bảo cho khoản vay nợ, bị cáo T đã gọi điện rủ các bị cáo khác ép anh H viết giấy mượn xe để đi cầm cố để nếu trong trường hợp anh H không trả nợ đúng hạn hoặc không trả nợ thì sẽ làm bằng chứng tố cáo mục đích để cho anh H phải trả số tiền nợ. Khi anh H không làm theo yêu cầu, sau khi Trần Quốc Th và các bị cáo khác đã có hành vi bắt, giữ anh Nguyễn Văn H và nhốt anh H trong cốp xe ô tô Nissan Navara BKS 29H - xxx, Th gọi điện rủ bị cáo Vũ Ngọc T đi cùng. Các bị cáo đưa anh H đến điếm canh đê tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Tại đây, T, Th, K có hành vi đánh và ép anh H viết giấy mượn xe ô tô đi cầm cố. Trong giấy cầm cố có ghi cầm cố xe ô tô với số tiền 460.000.000 đồng nhưng trên thực tế bên nhận cầm cố không trả tiền cho bên cầm cố mà đó chỉ là hình thức để ràng buộc anh H có nghĩa vụ trả nợ tiền cho Th. T và đồng bọn không có mục đích chiếm đoạt tiền của anh H.
Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, đơn trình báo và lời khai của bị hại; lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung:
Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình; bố bị cáo có thời gian cống hiến trong lực lượng vũ trang nhân dân vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về hình phạt:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Xét bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án với vai trò cuối nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề xuất của kiểm sát viên là hợp lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình các bị cáo và bị hại đã thoả thuận giải quyết xong vấn đề dân sự vì vậy vấn đề dân sự không xem xét giải quyết.
Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”
2. Căn cứ khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 03 (ba) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Vũ Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. * | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |