vanban.org

Bản án 38/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Viết T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Trần Viết T 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2020. Phạt bổ sung bị cáo Trần Viết T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mau bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Viết T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:38/2020/HS-ST
Ngày: 27 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Phương;

Bà Nguyễn Thị Thu Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2020/TLST-ST ngày 06 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Viết T, sinh ngày 10/9/1984 tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Phạm Thị H (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 18/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 19/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 01/6/2020 đến ngày 04/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; “có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Đinh Xuân A, sinh năm 1986; địa chỉ: X, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

- Người chứng kiến:

1. Ông Trần Viết K, sinh năm 1960; địa chỉ: T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

2. Chị Phan Thị P, sinh năm 1987; địa chỉ: T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; „vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 01/6/2020, Trần Viết T đi bộ từ nhà xuống khu vực chợ xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy về bán lại kiếm lời. Đến nơi, T gặp và mua của một người phụ nữ lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ số tiền 300.000đ ma túy được 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy màu trắng có chữ viết màu đen, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng mà T xác định là Heroine. T cầm gói nhỏ về nhà, dùng dao lam chia một ít trong số ma túy vừa mua cho vào 01 đoạn ống nhựa nhỏ màu xanh và dùng bật lửa hàn kín hai đầu rồi cất vào trong người, số còn lại thì mang cất giấu tại phòng ngủ của T. Chiếc dao lam và bật lửa Tđã bỏ đi hiện không thu hồi được.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Đinh Xuân A đến nhà T hỏi mua 100.000đ ma túy, T đồng ý, nhận tiền và lấy trong người 01 ống nhựa nhỏ màu xanh đã chuẩn bị trước đó đưa lại cho Đinh Xuân A. Khi Đinh Xuân A vừa nhận ống nhựa thì bị tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phát hiện, bắt quả tang. Đinh Xuân A tự giác giao nộp 01 ống nhựa nhỏ ma túy vừa mua của T cho tổ công tác, cả hai thừa nhận việc vừa mua bán ma túy với nhau. Tổ công tác mời người chứng kiến, niêm phong tại chỗ 01 ống nhựa nhỏ màu xanh Đinh Xuân A giao nộp, ký hiệu M và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Thiêm 400.000đ, trong đó có 100.000đ vừa bán ma túy cho Đinh Xuân A.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Viết T, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ 01 gói nhỏ ma túy Tcất giấu dưới nền đất cạnh chiếc đệm trong phòng ngủ, niêm phong ký hiệu K. Ngoài ra, còn thu giữ 01 chiếc kéo kim loại dài 15,5cm và 09 đoạn ống nhựa nhỏ đều có đường kính 0,5cm, có chiều dài từ 15 – 18cm, T khai những đồ vật này dùng vào việc phân chia và đóng gói Heroine để bán kiếm lời.

Tại bản kết luận giám định số 602/GĐKTHS ngày 03/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 02 phong bì niêm phong ký hiệu M, K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng M: 0,024 gam; khối lượng K: 0,302 gam.

Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 05/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố bị cáo Trần Viết T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh gia hành vi phạm tội, nhân thân tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Trần Viết T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Viết T từ 36 đến 42 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Viết T từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số Heroine, 01 kéo kim loại và 09 ống nhựa nhỏ đã thu giữ; tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000đ do bị cáo bán ma túy cho Đinh Xuân A; trả lại bị cáo 300.000đ nhưng giao cơ quan thi hành án quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Trần Viết T nhận tội và không tự bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ, ngày 01/6/2020 tại T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Trần Viết T đã có hành vi bán trái phép 0,024 gam Heroine cho Đinh Xuân A để lấy 100.000đ thì bị phát hiện bắt quả tang; ngoài ra Trần Viết T còn cất giấu 0,302 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Viết T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” của bị cáo Trần Viết T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, có đầy đủ nhận thức về việc lên án của xã hội, sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật với tội phạm ma túy, thấu hiểu những hệ lụy của ma túy nhưng vì hám lời, bị cáo vẫn bán ma túy cho người khác, tiếp tay cho tệ nạn ma túy. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh chống tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có động cơ vụ lợi, cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo chưa có vợ, con, là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử áp dụng ở mức khởi điểm theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người phụ nữ đã bán Heroine cho T, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ để xác định nên không xem xét.

Đối với Đinh Xuân A có hành vi tàng trữ trái phép 0,024 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Xét thấy hành vi nêu trên không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Công an huyện Xuân Trường đã xử lý hành chính đối với Đinh Xuân A là phù hợp.

Về vật chứng, tài sản đã thu giữ:

Toàn bộ số Heroine Cơ quan điều tra đã thu giữ là vật cấm lưu hành cũng như 01 chiếc kéo kim loại và 09 ống nhựa nhỏ T dùng vào mục đích để chia nhỏ ma túy bán kiếm lời nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

Số tiền 100.000đ do bị cáo bán ma túy cho Đinh Xuân A là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Còn số tiền 300.000đ là do bị cáo lao động mà có nên trả lại cho bị cáo nhưng giao cơ quan thi hành án tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Trần Viết T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

- Xử phạt bị cáo Trần Viết T 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2020.

- Phạt bổ sung bị cáo Trần Viết T số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu huỷ: Toàn bộ Heroine trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 602/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; 01 chiếc kéo kim loại; 09 ống nhựa nhỏ.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000đ nhưng giao cơ quan thi hành án tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 46/CCTHA và Biên lai thu tiền số 06346 lập cùng ngày 21/8/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Trần Viết T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ