- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Văn K Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HS - ST Ngày 26 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN - HOÀ BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Trƣờng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Xuân Thắng
Ông: Đinh Mạnh Đông
- Thư ký phiên toà: Ông Kiều Quang Dự - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Ông Vì Văn Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/TLST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2020/QĐXXST - HS, ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K; Sinh ngày: 13/10/1974 tại: Lƣơng Sơn - Hòa Bình
Nơi cƣ trú: Xóm Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Xuân M, sinh năm 1955 và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1957
Vợ: Nguyễn Thị T (Đã chết); Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án; tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2020 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút, ngày 13/6/2020 Nguyễn Văn K điều khiển xe Môtô màu đỏ kiểu giáng Wave BKS: 28S3 - 2928 đi từ nhà ra khu vực Chợ B, xã T mua thức ăn, khi đi K cầm theo 03 gói ma túy, 02 gói ma túy K cất vào túi quần đằng trƣớc bên phải đang mặc, 01 gói ma túy K cất vào túi quần đằng trƣớc bên trái đang mặc.
Khi K đang đi ở đƣờng liên xóm Đ cách nhà K khoảng 100m thì bị Công an huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi quần đằng trƣớc bên phải 02 gói ma túy, thu giữ tại túi quần đằng trƣớc bên trái 01 gói ma túy. Số ma túy này K khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi, ngƣời gầy cao khoảng 1m65cm, tóc để bình thƣờng tại khu vực gần Bệnh viện V thuộc thị trấn V, huyện U, TP Hà Nội, K không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của ngƣời đàn ông này.
Tại Kết luận giám định số: 173/KLGĐ - CAT - PC09 ngày 18/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục trong 03 gói giấy trong phong bì niêm phong gửi giám định có tổng khối lƣợng là 0,22 gram là ma túy loại Heroine.
Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY” cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 18/6/2020 số nhận giám định: 173 ngày 13/6/2020, số thông báo kết luận giám định số: 173 ngày 18/6/2020. Cơ quan trƣng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình số: 98 ngày 13/6/2020 tên đối tƣợng Nguyễn Văn K, tên mẫu vật Heroine, số lƣợng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
- 01 (Một) xe Môtô kiểu giáng Wave màu đỏ BKS: 28S3 - 2928, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng.
- 01 (Một) điện thoại mầu đen phía trƣớc có dòng chữ Starlight điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng.
- 01 (Một) giấy Chứng minh thƣ nhân dân số: 113213695 mang tên Nguyễn Văn K.
Cáo trạng số: 44/CT - VKSLS ngày 10/9/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn K, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn K từ 15 tháng đến 18 tháng.
- Vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY” cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 18/6/2020 số nhận giám định: 173 ngày 13/6/2020, số thông báo kết luận giám định số: 173 ngày 18/6/2020. Cơ quan trƣng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình số: 98 ngày 13/6/2020 tên đối tƣợng Nguyễn Văn K, tên mẫu vật Heroine, số lƣợng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K: 01 (Một) xe Môtô kiểu giáng Wave màu đỏ BKS: 28S3 - 2928, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) điện thoại màu đen phía trƣớc có dòng chữ Starlight điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) giấy Chứng minh thƣ nhân dân số: 113213695 mang tên Nguyễn Văn K, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ Cáo trạng đã truy tố, bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật và mức hình phạt, vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra huyện Lƣơng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã đƣợc thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà hôm nay. Nhƣ vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 13/6/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gram chất ma túy loại Heroine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn K là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi vi phạm pháp luật hình sự của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, nên phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự, để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tàng trữ 0,22 gram chất ma túy loại Heroine, thuộc tình tiết định khung, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn K không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nƣớc đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, do vậy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định, theo quy định tại Điều 38 BLHS để cải tạo, giáo dục bị cáo giúp bị cáo có thời gian cai nghiện chất ma túy và phòng ngừa tôi phạm nhƣ đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung:
Xét điều kiện kinh tế của bị cáo là lao động tự do công việc không ổn định, không có tài sản do vậy không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS.
[7] Đối với đối tượng có liên quan:
Ma túy Cơ quan Công an thu giữ của Nguyễn Văn K, K khai mua của một ngƣời đàn ông khoảng 40 tuổi, ngƣời gầy cao khoảng 1m65cm, tóc để bình thƣờng gần khu vực Bệnh viện V thuộc thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội, qua xác minh không có đối tƣợng nào nhƣ mô tả của Nguyễn Văn K. Cơ quan Công an huyện Lƣơng Sơn tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY” cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 18/6/2020 số nhận giám định: 173 ngày 13/6/2020, số thông báo kết luận giám định số: 173 ngày 18/6/2020. Cơ quan trƣng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình số: 98 ngày 13/6/2020 tên đối tƣợng Nguyễn Văn K, tên mẫu vật Heroine, số lƣợng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, là vật Nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- 01 (Một) xe Môtô kiểu giáng Wave màu đỏ BKS: 28S3 - 2928, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) điện thoại màu đen phía trƣớc có dòng chữ Starlight điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) giấy Chứng minh thƣ nhân dân số: 113213695 mang tên Nguyễn Văn K, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho Nguyễn Văn K theo quy định tại Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn K: 15 (Mƣời lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2020.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì nguyên vẹn, một mặt ghi “MẪU GIÁM ĐỊNH MA TÚY” cán bộ giám định Đỗ Thành Công, ngày niêm phong 18/6/2020 số nhận giám định: 173 ngày 13/6/2020, số thông báo kết luận giám định số: 173 ngày 18/6/2020. Cơ quan trƣng cầu: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình số: 98 ngày 13/6/2020 tên đối tƣợng Nguyễn Văn K, tên mẫu vật Heroine, số lƣợng 03. Tại các mép dán có dấu tròn niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K: 01 (Một) xe Môtô kiểu giáng Wave màu đỏ BKS: 28S3 - 2928, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) điện thoại màu đen phía trƣớc có dòng chữ Starlight điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lƣợng; 01 (Một) giấy Chứng minh thƣ nhân dân số: 113213695 mang tên Nguyễn Văn K.
Hiện trạng theo biên bản bàn giao vật chứng, ngày 10 tháng 9 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lƣơng Sơn và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND tỉnh HB; - VKSND huyện Lƣơng Sơn; - Chi cục THADS huyện Lƣơng Sơn; - Công an huyện Lƣơng Sơn; - Sở Tƣ pháp tỉnh HB; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lƣu HS, TH. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Trường |