- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với trẻ em Ng T B - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh và hình phạt : Tuyên bố bị cáo Ngô Th B phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 115 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƢỚC ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 38 /2020/HSST Ngày 08 / 06 /2020 |
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toà phiên toà: Ông Trần Văn Xuyến
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đăng Bảy ; bà Lê Thị Thận
- Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Lường Văn Tình – Cán bộ Toà án nhân dân
huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phƣớc: bà Mai Thị Thanh Tâm – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 06 năm 2020 tại trụ sở Tòa án Toà án nhân dân huyện Bù
Đăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXX- ST ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Th B , tên gọi khác: Không; giới tính: Nam, sinh năm: 1995, nơi sinh: tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: tổ 1, ấp 6, xã S N, huyện T Ch, tỉnh Tây Ninh.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Làm thuê, Trình độ học vấn: 04/12.
Họ và tên cha: Ngô Th L, mẹ: Nguyễn Th Th,
Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình.
Họ và tên vợ: Karia Ma, có 01 người con sinh năm 2019.
Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 30/9/2014 bị TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị can chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 27/6/2015. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/02/2020 cho đến nay. ( có mặt )
Những ngƣời tham gia tố tụng: Ngƣời bị hại: Đoàn T TT;
Sinh năm 2001 ( vắng mặt ) Nơi cư trú : tổ 1 ấp 6, xã Suối Ngô, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ngƣời làm chứng: Phan Th B;
Sinh năm 1972 ( vắng mặt ) Nơi cư trú: Thôn 9, xã Đ L, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
1/ Về hành vi pham tội:
Ngô Th B và Đoàn T TT, sinh ngày 17/10/2001 có quan hệ tình cảm với nhau. Ngày 20/02/2016, do buồn chuyện gia đình nên Trâm gọi điện cho Bình chở qua chơi. Ngày 21/02/2016, Bình điều khiển xe hon da (không nhớ biển số) chở Trâm từ huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh về nhà trọ của bà Phạm Thị Bền, địa chỉ: Thôn 3, xã Phước Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước ở cùng với mấy người bạn cùng làm thuê với Bình. Khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, Bình rủ Trâm ra võng mắc ở ngoài vườn cao su (cách phòng trọ khoảng 100m) để nói chuyện. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Bình xin Trâm cho quan hệ tình dục thì Trâm đồng ý. Cả hai quan hệ tình dục với nhau 01 lần tại võng, quan hệ xong, Bình ôm Trâm ngủ (BL 52, 56). Sáng ngày 22/02/2016, Bình thuê riêng 01 phòng trọ để ở cùng Trâm. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Bình về phòng trọ ngủ cùng Trâm và Bình có đòi Trâm cho quan hệ tình dục nhưng Trâm nói mệt nên không đồng ý (BL 36, 58). Sáng ngày 23/02/2016, Trâm điện thoại cho người nhà sang đón về nhà. Ngày 24/02/2016, gia đình Trâm làm đơn tố cáo hành vi của Ngô Th B gửi Cơ quan Công an. Ngày 11/10/2017, Bình đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi như trên (BL 35, 36).
Căn cứ Giám định pháp y về tình dục số 280/2017/TD ngày 27/10/2017 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Bình Phước, kết luận: Đoàn T TT màng trinh giãn đường kính khoảng 1,7cm, có vết rách ở vị trí 9 giờ không bầm tím, không xung huyết ( BL 39, 40).
2/ Các vấn đề khác của vụ án:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 20.000.000đ cho bị hại và bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo Bình.
Tại Bản cáo trạng số 44 /CT – VKS ngày 21 / 4 /2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Ngô Th B về tội “ Giao cấu với trẻ em ” quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự 1999 .
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với bị cáo như sau:
Về tội danh và hình phạt : Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngô Th B phạm tội “ Giao cấu với trẻ em ” quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự 1999 .
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 115 Bộ luật Hình sự, điểm b, p khỏan 1, 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo Ngô Th B từ 18 tháng đến 24 tháng tù .
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm.
Ý kiến về Quyết định truy tố: Bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau :
1/ Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra công an huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra truy tố thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến đề nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. 2/ Xác định tội danh: Ngày 21/02/2016 Ngô Th B đã quan hệ tình dục với Đoàn T TT, sinh ngày 17/10/2001, sau đó Ngô Th B bỏ trốn, thời điểm quan hệ tình dục thì Đoàn T TT là người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em được pháp luật bảo vệ .
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự . Vì vậy hành vi của bị cáo Ngô Th B đã phạm vào tội “Giao cấu với trẻ em”. ” theo khoản 1 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. 3/ Các tình tiết tặng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tặng nặng: bị cáo tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho phía bị hại.
Sau khi xem xét hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý phù hợp hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung . 4/Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. 5/Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Th B nộp 200.000đ án phí HSST theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về tội danh và hình phạt : Tuyên bố bị cáo Ngô Th B phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 115, điểm b, p khoản 1; 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, điều 33, Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Ngô Th B 1 năm 6 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2020. 2/ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 3/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH Ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí của Toà án. Buộc bị cáo Ngô Th B nộp 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bp; - Sở TP tỉnh BP; - Công an tỉnh BP; - Công an huyện Bù Đăng; - VKSND huyện BĐ; - Chi cục THADS huyện BĐ; - Bị cáo, Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Xuyến |