- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lang Thị Ng - Lang Văn Tr"
- Tòa quyết gì? Không công nhận chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr là vợ chồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HNGĐST Ngày: 20-7-2020 V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình " |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Bùi Như Đa.
Ông Lương Thành Trung.
- Thư ký phiên toà: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2020/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2020 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lang Thị Ng. Sinh năm: 1979.
Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lang Văn Tr. Sinh năm: 1974.
Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lang Thị Ng trình bày: Chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1994 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định mà chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng thì đến năm 2013 giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Từ năm 2015 cho đến nay thì hai người đã sống ly thân và anh Lang Văn Tr đã bỏ đi làm ăn xa. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị Ng làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lang Văn Tr.
Về quan hệ con cái: Chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr có hai con chung là cháu Lang Thị Hồng A, sinh năm 1994 và cháu Lang Hoài A, sinh năm 2001. Hiện nay các con chung đều đã lớn và trưởng thành, chị Ng không yêu cầu giải quyết về quan hệ con cái. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.
Về tài sản: Chị Lang Thị Ng không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cho anh Lang Văn Tr, tuy nhiên anh Tr không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Qua xác minh tại UBND xã C được biết, sau khi nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập đương sự và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải thì cán bộ UBND xã C không tống đạt được trực tiếp cho anh Tr vì anh Tr không có mặt tại địa phương. Xác minh tại Ban công an xã Ch được biết, anh Lang Văn Tr có hộ khẩu thường trú tại bản Đ, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh Tr không có mặt tại địa phương, không biết anh Tr đi đâu, làm gì và không làm thủ tục khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương. Xác minh tại mẹ của anh Tr (Bà Lang Thị V) thì được biết, sau khi kết hôn với nhau thì chị Ng và anh Tr chung sống hạnh phúc, giữa hai người có mâu thuẫn gì không thì bà V không biết. Hiện nay anh Tr đang đi làm ăn xa và ít khi trở về nhà. Bản thân bà V cũng không nắm được địa chỉ cụ thể của anh Tr hiện nay ở đâu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã cố tình giấu địa chỉ và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, không công nhận chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr là vợ chồng. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị Ng phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lang Văn Tr không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án và cố tình giấu địa chỉ. Đây là lần thứ hai Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 BLTTDS; điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Lang Văn Tr.
Về nội dung:
Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng. Hai người kết hôn với nhau từ năm 1994 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Căn cứ đoạn 2 điểm b Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 và khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr là vợ chồng.
Quan hệ con cái: Các con chung của chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr hiện nay đều đã trưởng thành. Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Quan hệ tài sản: Chị Lang Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, nên miễn xét.
Về án phí: Cần buộc chị Lang Thị Ng phải chịu án phí DSST về ly hôn.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 147 BLTTDS;
- Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm b Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không công nhận chị Lang Thị Ng và anh Lang Văn Tr là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Lang Thị Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000779 ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu. Chị Ng đã nộp đủ án phí DSST.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Lang Thị Ng có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lang Văn Tr có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND huyện Quỳ Châu - Chi cục THADS huyện Quỳ Châu - Phòng KTNV&THA - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã C, H.Quỳ Châu, T.Nghệ An - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hoài Nam |