vanban.org

Bản án 38/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/05/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị N, xử cho chị Đào Thị N ly hôn anh Vũ Đình H.

Về quan hệ nuôi con chung: Giao cho chị Đào Thị N đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Vũ Thị P, sinh ngày 24/01/2017 đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đào Thị N không yêu cầu anh Vũ Đình H cấp dƣỡng tiền nuôi con. Anh Vũ Đình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị N, xử cho chị Đào Thị N ly hôn anh Vũ Đình H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29/5/2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Hƣơng Nhu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khóa và bà Ngô Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thƣ ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đàm Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2020 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị N, sinh năm 1998; nơi đăng ký HKTT: xã T, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng; chỗ ở hiện nay: Thôn T2, xã N, huyện P, tỉnh Hƣng Yên (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Vũ Đình H, sinh năm 1991; nơi cƣ trú trƣớc khi xuất cảnh: Thôn P, xã T, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng; chỗ ở hiện nay: Cộng hòa Séc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là chị Đào Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đình H kết hôn với nhau vào ngày 08/9/2016 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị và anh H sống cùng bố mẹ anh H ở thôn P, xã T, huyện T1, tỉnh Hải Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc, do sống xa nhau nên anh chị luôn nghi ngờ về sự chung thủy của nhau, mỗi lần nói chuyện điện thoại thƣờng xảy ra cãi nhau. Từ cuối năm 2017, chị đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở xã N, huyện P, tỉnh Hƣng Yên sống, chị và anh H không liên lạc và quan tâm gì tới nhau nữa. Giữa năm 2019, khi anh H về nƣớc thăm nhà đã muốn ly hôn chị nhƣng do thời gian ở Việt Nam ít nên chƣa kịp giải quyết ly hôn, anh H đã phải trở lại nƣớc ngoài. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh H. Chị chỉ biết anh H sống tại ZAVODI 333.75 KOJETIN, PREROW, Cộng hòa Séc chứ không biết địa chỉ cụ thể nhƣ thế nào.

Về quan hệ con chung: Chị và anh H có một con chung là Vũ Thị P, sinh ngày 24/01/2017, hiện đang ở cùng chị. Nguyện vọng của chị muốn đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con. Hiện chị mở cửa hàng làm tóc, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do chị N không cung cấp đƣợc địa chỉ của anh H tại Cộng hòa Séc nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng đã yêu cầu gia đình anh H cung cấp địa chỉ của anh H. Ông Vũ Đình Nên và bà Nguyễn Thị Mạc (bố mẹ đẻ anh H) trình bày: Ông bà chỉ biết anh H lao động tại Cộng hòa Séc chứ không biết địa chỉ cƣ trú cụ thể của anh H ở đâu, song anh H thƣờng xuyên liên lạc bằng điện thoại về nhà. Sau khi nhận đƣợc các văn bản tố tụng của Tòa án giao, ông bà đều thông báo bằng điện thoại cho anh H biết. Còn nguyên nhân mâu thuẫn của anh H và chị N là do anh H đi xuất khẩu lao động ở Cộng hòa Séc, chị N ở nhà đi làm công ty đã có quan hệ tình cảm với ngƣời đàn ông khác, gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhƣng chị N không nghe, mỗi lần anh H gọi điện về cho chị N thì vợ chồng lại xảy ra cãi nhau. Từ cuối năm 2017, chị N đã đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở Hƣng Yên sống, không quan tâm gì đến chồng và gia đình nhà chồng. Năm 2019 anh H về nƣớc và cũng có nguyện vọng ly hôn chị N nhƣng do thời gian về nƣớc ít nên chƣa kịp giải quyết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các băn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị N và anh H. Tại biên bản xác minh ngày 22/4/2020, đại diện lãnh đạo xã T cùng Tƣ pháp xã, đại diện Hội phụ nữ, lãnh đạo thôn P đều xác nhận chị N và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh H nghi ngờ chị N không chung thủy, chị N đã đƣa con về quê ngoại ở Hƣng Yên sinh sống từ lâu.

Đại diện Cơ quan quản lý nhà nƣớc về gia đình và trẻ em ở xã T đề nghị Tòa án giao cháu Vũ Thị P (là con chung của chị N, anh H) cho chị N trực tiếp nuôi dƣỡng vì cháu còn nhỏ, đã ở cùng chị N từ bé, hơn nữa anh H hiện đang lao động tại nƣớc ngoài nên không có điều kiện chăm sóc cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dƣơng phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thƣ ký phiên tòa và nguyên đơn cơ bản đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu và thời gian chuẩn bị xét xử chƣa thực hiện đúng theo Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn tiếp tục cung cấp địa chỉ của bị đơn, đến hết thời hạn xét xử mới giải quyết vụ án. Do vậy Viện kiểm sát không phát biểu đƣờng lối giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Đào Thị N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Vũ Đình H là ngƣời Việt Nam hiện đang sinh sống ở Cộng hòa Séc, có hộ khẩu thƣờng trú tại tỉnh Hải Dƣơng nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dƣơng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N không cung cấp đƣợc địa chỉ của anh H tại Cộng hòa Séc. Theo hƣớng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án đã yêu cầu gia đình anh H cung cấp địa chỉ, nhƣng gia đình không cung cấp đƣợc mà chỉ thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H biết bằng điện thoại, đồng thời Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ. Tại phiên tòa lần hai, chị N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị N và anh Vũ Đình H tự nguyện kết hôn và đã đƣợc UBND xã T, huyện T1 đăng ký, cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/9/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị N, biên bản xác minh tại địa phƣơng, lời khai của ông Nên, bà Mạc (là bố mẹ anh H) có căn cứ xác định trong cuộc sống chị N và anh H có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tƣởng nhau (anh H nghi ngờ chị N ngoại tình) và vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Chị N đã tự đƣa con về nhà bố mẹ đẻ ở Hƣng Yên sống từ lâu, vợ chồng không còn liên lạc cũng nhƣ quan tâm đến nhau nữa. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh H đã đƣợc bố mẹ thông báo về việc chị N xin ly hôn anh nhƣng anh H không có văn bản, tài liệu gì thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị N đƣợc ly hôn với anh H.

Về quan hệ nuôi con chung: Cháu Vũ Thị P là con chung của chị N và anh H hiện đang sống cùng chị N, chị N cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng. HĐXX thấy hiện nay cháu P còn nhỏ (sinh ngày 24/01/2017), rất cần sự chăm sóc của mẹ và từ nhỏ đến nay cháu vẫn đƣợc mẹ chăm sóc tốt. Mặt khác, chị N có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, anh H đang lao động ở nƣớc ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc cháu đƣợc. Do đó, cần giao con cho chị N trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo cuộc sống của cháu là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra giải quyết. Anh H không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên sau này nếu anh H có yêu cầu giải quyết thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị N, xử cho chị Đào Thị N ly hôn anh Vũ Đình H.

2. Về quan hệ nuôi con chung: Giao cho chị Đào Thị N đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Vũ Thị P, sinh ngày 24/01/2017 đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đào Thị N không yêu cầu anh Vũ Đình H cấp dƣỡng tiền nuôi con.

Anh Vũ Đình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Đào Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2018/0002083 ngày 05/3/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dƣơng.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị N đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, anh Vũ Đình H đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ