- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "X Ly hôn T"
- Tòa quyết gì? 199; Điều 202; Các điều 131, 238, 239, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30-7-2020 V/v tranh chấp: “ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Nhị
2. Bà Lê Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2020/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42A/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Võ Thị X, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
2.Bị đơn: Ông Võ Nhật Tân, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp N, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Võ Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T tự nguyện tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/6/2014. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có nhiều khác biệt trong lối sống, từ đó thường xuyên cãi nhau, xung đột ngày càng nhiều càng nghiêm trọng không thể hòa giải được dẫn đến gia đình không còn hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân ngày càng chuyển biến tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt đến tin thần của hai bên. Hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2019 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông Võ Nhật T có 01 con chung tên A sinh ngày 29/12/2010. Khi ly hôn bà X yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Nhật T vắng mặt tại phiên tòa và trong suốt quá trình tố tụng nên không có bản tự khai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà X nhưng ông T không đến Tòa án cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc bà X xin ly hôn.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Long An phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng ông T chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của ông theo thủ tục tố tụng, tuy nhiên việc xét xử vắng mặt ông T không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết vụ án cũng không có ý kiến. Xét tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà X yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: Bà X và ông Võ Nhật T có 01 con chung tên A sinh ngày 29/12/2010, cháu A có nguyện vọng ở với mẹ nên khi ly hôn bà X nuôi con, ông Tân không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, bà X không yêu cầu nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Bà Võ Thị X và ông Võ Nhật T kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện T tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/6/2014. Nay bà X khởi kiện xin ly hôn làm phát sinh quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Do ông T hiện cư ngụ tại huyện T, tỉnh Long An nên khi bà X có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An giải quyết theo trình tự sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên toà, ông T là bị đơn vắng mặt. Theo kết quả xác minh của Công an xã N, huyện T, tỉnh Long An thì ông Võ Nhật T có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ: ấp N, xã M, huyện T, tỉnh Long An, hiện đang sinh sống tại địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại nơi cư trú cho ông T các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật như Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo phiên tòa nhưng ông T vẫn không đến Tòa án tham gia tố tụng. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An đưa ra xét xử vắng mặt ông Võ Nhật T là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Võ Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Xét yêu cầu của bà X, Hội đồng xét xử thấy:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị X và ông Võ Nhật T có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.
Xét thấy, bà X và ông T kết hôn chưa được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà X trình bày là do vợ chồng có nhiều khác biệt trong lối sống, từ đó thường xuyên cãi nhau, xung đột ngày càng nhiều càng nghiêm trọng không thể hòa giải được dẫn đến gia đình không còn hạnh phúc. Quan hệ hôn nhân ngày càng chuyển biến tiêu cực gây ảnh hưởng không tốt đến tinh thần của hai bên. Hai vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2019 đến nay. Toà án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà X và ông T tại nơi cư trú, theo kết quả xác minh ngày 08/6/2020 của Ủy ban nhân dân xã M thì địa phương không xác định rõ nguyên nhân mâu thuẫn, cho rằng phát sinh tranh chấp là do mâu thuẫn trong gia đình thường xuyên. Tuy ông T vắng mặt tại phiên toà, không xác định nguyên nhân mâu thuẫn nhưng từ khi thụ lý vụ án đến nay Toà án đã tiến hành tống đạt niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng mà ông Tân cố tình không đến tham gia phiên hoà giải và phiên toà để giải quyết vụ án, như vậy phía ông T không có thiện chí cũng như không có biện pháp tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng tức là không còn thiết tha về quan hệ tình cảm với bà X nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa bà X và ông T không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa, xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X đối với ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà X và ông Võ Nhật T có 01 con chung tên A, sinh ngày 29/12/2010. Sau khi ly hôn bà X yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện con chung đang sống cùng bà X, do bà X chăm lo sinh hoạt phí và học hành, bà X có lao động có thu nhập hàng tháng, ông T cũng không thể hiện yêu cầu nuôi con chung, cần giao con chung cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển ổn định và phù hợp nguyện vọng của con chung là có căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, ông Tân không phải cấp dưỡng nuôi con do bà X không yêu cầu, ông T được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: bà Võ Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Các điều 147, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị X. Bà Võ Thị X được ly hôn với ông Võ Nhật T.
Về con chung: có 01 con chung tên A, sinh ngày 29/12/2010. Giao con chung tên A cho bà Võ Thị Xuyến được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Nhật T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con được quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Võ Thị X không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: bà Võ Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà X đã nộp theo biên lai thu số 0007057 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An sang thi hành án phí. Bà X không phải nộp thêm.
Án xét xử sơ thẩm công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - UBND xã M; - Các đương sự; - Án văn, Lưu; TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Bảo Trâm. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tĩnh 2. Ông Lê Văn Tuấn Sau khi thảo luận Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3 nhất trí: QUYẾT ĐỊNH 199; Điều 202; Các điều 131, 238, 239, 243, 245 Bộ luật tố tụng dân sự. 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009. Tuyên xử: Uyên, bà Nguyễn Thị Lệ Uyên được ly hôn với ông Phan Văn Phấn. ngày 25/9/2010 cho bà Nguyễn Thị Lệ Uyên được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phan Văn Phấn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 575.000 đồng (bằng ½ mức lương cơ bản tại thời điểm cấp dưỡng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, bà Nguyễn Thị Lệ Uyên và ông Phan Văn Phấn được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. quyết nên Tòa không xem xét. trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân – gia đình. Chuyển 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Uyên đã nộp theo biên lai thu số 0005437 ngày 10/10/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm. Bà Uyên không phải nộp thêm. đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Các hội thẩm nhân dân Nguyễn Thị Tĩnh - Lê Văn Tuấn | Hồ Bảo Trâm Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Phiên tòa, ngày 31 tháng 12 năm 2014 THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Xét xử vụ án: Ly hôn giữa: bà Nguyễn Thị Lệ Uyên và ông Phan Văn Phấn. Áp dụng Điều 27; Điểm a khoản 1 Điều 33; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều Áp dụng các điều 89, 91, 92, 93, 94 Luật Hôn nhân – gia đình năm 2000. Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ - Về con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Phan Chấn Hưng sinh Ông Phan Văn Phấn có quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai có - Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị Lệ Uyên không đặt ra giải Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ Uyên phải có nghĩa vụ chịu 200.000đ (hai Ông Phan Văn Phấn phải chịu 200.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Án xét xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Hồ Bảo Trâm |