vanban.org

Bản án 38/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 688, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015;

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T: Buộc ông Trương Quốc D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T, tổng số tiền 11.779.669 đồng (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi chín ngàn sáu trăm sáu mươi chín đồng, trong đó: Tiền gốc là 6.972.000 đồng (Sáu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 688, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 155 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/DS-ST
Ngày: 30-6-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Quang Phú

2. Bà Nguyễn Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Thư ký Tòa án

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 217/2019/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33A/2020/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2020/QĐST-DS ngày 12/6/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại Cổ phần Sài G Thương T.

Địa chỉ trụ sở: Số N Nam Kỳ Khởi N, Phường C, Quận S, TP. Hồ Chí M.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1985 (Có mặt)

Đại chỉ: Khu phố Phú T, phường Tân P, TP. Đồng X, tỉnh Bình P

2. Bị đơn: Ông Trương Quốc D, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Thắng L, xã Lộc P, huyện Lộc N, tỉnh Bình P

Nơi làm việc: Trường tiểu học Lộc P – Địa chỉ: xã Lộc P, huyện Lộc N, tỉnh Bình P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 9 năm 2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền – bà Phạm Thị Thu H trình bày:

Vào ngày 17/11/2014, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết hợp đồng tín dụng số LD1432100581 với ông Trương Quốc D (do Chi nhánh tỉnh Bình Phước xác lập giao dịch), thỏa thuận cho ông Trương Quốc D vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất 0,8%/tháng theo dư nợ ban đầu, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, thời hạn vay là 36 tháng, thời điểm trả hết nợ là ngày 17/11/2017. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D đã trả nợ gốc và tiền lãi cho đến hết ngày 30/6/2017 với tổng số tiền là 55.428.000 đồng, trong đó: Tiền gốc là 43.028.000 đồng, tiền lãi là 12.400.000 đồng. Từ kỳ hạn trả nợ ngày 31/7/2017 thì ông D không trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Vì vậy, nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết như sau: Buộc ông Trương Quốc D trả các khoản tiền sau: Tiền gốc là 6.972.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/6/2020 là 2.807.669 đồng. Đồng Thời yêu cầu ông D tiếp tục trả tiền lãi phát sinh như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LD143210058 ngày 17/11/2014 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

Suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – ông Trương Quốc D vắng mặt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T(gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trương Quốc D có quan hệ cho vay và vay tiền thông qua hợp đồng tín dụng. Ngân hàng cho rằng ông D đã vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D trả tiền gốc còn lại và tiền lãi. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật giữa Ngân hàng và ông D là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Quan hệ pháp luật giữa Ngân hàng và ông D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông D có nơi cư trú cuối cùng tại huyện Lộc Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự

Về thủ tục tống đạt:

Căn cứ xác nhận của Công an xã Lộc Phú và xác nhận của Trường Tiều học và Trung học cơ sở Lộc Phú (do Ngân hàng cung cấp) thì ông Trương Quốc D hiện không còn ở địa phương và đã xin nghỉ việc tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Lộc Phú.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn – ông Trương Quốc D vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trương Quốc D.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số LD1432100581 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Trương Quốc D vào ngày17/11/2014, lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định: Vào ngày 17/11/2014, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương Tcó ký kết hợp đồng tín dụng số LD1432100581 với ông Trương Quốc D (do Chi nhánh tỉnh Bình Phước xác lập giao dịch), thỏa thuận cho ông Trương Quốc D vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất 0,8%/tháng theo dư nợ ban đầu, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, thời hạn vay là 36 tháng, thời điểm trả hết nợ là ngày 17/11/2017. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông D đã trả nợ gốc và tiền lãi cho đến hết ngày 30/6/2017. Từ kỳ hạn trả nợ ngày 31/7/2017 thì ông D không trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh buộc ông Trương Quốc D trả các khoản tiền sau: Tiền gốc là 6.972.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/6/2020 là 2.807.669 đồng. Buộc ông D tiếp tục trả tiền lãi phát sinh như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LD143210058 ngày 17/11/2014 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng là có căn cứ.

Vì vậy, cần buộc ông Trương Quốc D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương Ttổng số tiền là 11.779.669 đồng, trong đó: Tiền gốc là 6.972.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/6/2020 là 2.807.669 đồng. Buộc ông D tiếp tục trả tiền lãi phát sinh như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LD143210058 ngày 17/11/2014, kể từ ngày 01/7/2020 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Quốc D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 588.983 đồng

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương Tkhông phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000663 ngày 13/12/2019

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 227; Điều 228; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 471, Điều 472, Điều 473 và Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Điểm d khoản 2 Điều 688, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 90 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T:

Buộc ông Trương Quốc D trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T, tổng số tiền 11.779.669 đồng (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi chín ngàn sáu trăm sáu mươi chín đồng, trong đó: Tiền gốc là 6.972.000 đồng (Sáu triệu chín trăm bảy mươi hai ngàn đồng), tiền lãi trong hạn là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 30/6/2020 là 2.807.669 đồng (Hai triệu tám trăm lẽ bảy ngàn sáu trăm sáu mươi chín đồng).

Buộc ông Trương Quốc D tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương Ttiền lãi phát sinh như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số LD143210058 ngày 17/11/2014, kể từ ngày 01/7/2020 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trương Quốc D phải chịu 588.983 đồng (Năm trăm tám mươi tám ngàn chín trăm tám mươi ba đồng)

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương Tkhông phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài G Thương T300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000663 ngày 13/12/2019.

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự” Nôi nhaän:

T.M HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

- TAND tænh Bình Phöôùc;

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa

- VKS huyeän Loäc Ninh;

- Caùc ñöông söï;

- THADS huyeän Loäc Ninh;

- Löu hoà sô.

Trần Quang Minh

Cỡ chữ