- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thơm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Th phạm tội: Chứa mại dâm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND TỈNH THÁI NGUYÊN TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN Bản án số: 38/2019/HSST Ngày: 09/4/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn H Chiều
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh
2. Bà Đỗ Thị Hồng Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Hữu - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 09/4/2019, tại hội trường Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2019/HSST ngày 13/3/2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/QĐXX-ST ngày 28/3/2019 đối với bị cáo:
Trần Thị Th; tên gọi khác: không; sinh ngày 06/10/1972; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm Tuần, xã Đắc Sơn, Phổ Yên, Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Con ông Trần Duy Đ và bà Dương Thị Ch; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; có chồng là Trần Hiển Th, sinh năm 1966; Vợ chồng có 01 con chung sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2018, đến ngày 27/12/2018 được thay thế biện phạm ngăn chặn từ biện pháp “Tạm giam” bằng biện pháp “Bảo Lĩnh”. Có mặt.
* Người làm chứng:
1. Lê Thị Ng, sinh năm 1980; Trú tại: xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt
2. Phạm Thị H; sinh năm 1971; Trú tại: xóm An Hòa, xã Thành Công, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt
3. Ngô văn K; sinh năm 1982; Trú tại: xóm Xây, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt
4. Lê Thanh H; sinh năm 1985; Trú tại: Tổ 33, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên. Vắng mặt
5. Tạ Hoàng H; sinh năm 1965; Trú tại: xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ
Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt
* Người chứng kiến: anh Đào Sơn D; sinh năm 1971; Trú tại: xóm Hộ Sơn, xã
Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/12/2018, tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên phát hiện bắt quả tang Trần Thị Th đang có hành vi chứa mại dâm tại nhà nghỉ Hoàng Sơn thuộc xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình bắt quả tang tại phòng số 105 nhà nghỉ Hoàng Sơn phát hiện Lê Thanh H (sinh năm 1985; trú tại tổ 33, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) vừa mua bán dâm với Phạm Thị H (sinh năm 1971; trú tại xóm An Hòa, xã Thành Công, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên); tiếp tục kiểm tra các phòng khác tại nhà nghỉ Hoàng Sơn phát hiện tại phòng 103 có Ngô Văn K (sinh năm 1982; trú tại xóm Xây, xã Thuận Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên) và tại phòng 104 có Lê Thị Ng (sinh năm 1980; trú tại xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị Th; thu giữ đồ vật, tài sản gồm: 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) tiền mặt Th tự nguyện giao nộp; 01 vỏ bao cao su và 01 lõi bao cao su đã qua sử dụng thu giữ tại phòng 105 nhà nghỉ Hoàng Sơn.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nhà nghỉ Hoàng Sơn, Kt quả khám xét phát hiện, thu giữ: 01 hộp bao cao su nhãn hiệu Beautiful Dream bên trong có 12 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng tại ngăn kéo quầy lễ tân và 01 bao cao su chưa qua sử dụng tại đầu giường phòng 101 nhà nghỉ Hoàng Sơn. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO q7 màu hồng của Trần Thị Th, 01 điện thoại nhãn hiệu HUAWEI màu vàng của Phạm Thị H và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng của Lê Thị Ng.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Trần Thị Th khai nhận: Khoảng tháng 4/2018, Th được ông Tạ Hoàng H (sinh năm 1965; trú tại xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên) là nhà chủ nhà nghỉ Hoàng Sơn thuê trông coi quản lý nhà nghỉ Hoàng Sơn. Sau đó lợi dụng sự tin tưởng của ông H, Th đã cho các đối tượng là gái bán dâm đến bán dâm cho khách mua dâm tại nhà nghỉ Hoàng Sơn nhằm mục đích thu lợi bất chính, số tiền thu lợi được từ việc chứa mại dâm sau khi chia cho gái bán dâm Th sẽ hưởng toàn bộ và ông H không biết việc làm của Th.
Khoảng 14 giờ ngày 05/12/2018, Lê Thanh H và Ngô Văn K đến nhà nghỉ Hoàng Sơn thuộc xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên gặp Th đang ở quầy lễ tân của nhà nghỉ để đặt vấn đề mua dâm. Th đã đồng ý và thỏa thuận giá một lượt mua dâm là 500.000đ, H đưa cho Th 500.000đ. Sau đó, Th bảo với Lê Thị Ng có đồng ý đi bán dâm không? Ng đồng ý và cùng K vào phòng 101 của nhà nghỉ Hoàng Sơn để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi vào phòng 101 do K say rượu đã cào cấu vào người Ng, nên Ng không cho K quan hệ tình dục mà bỏ chạy vào nhà vệ sinh trong phòng 101 đứng; sau đó K sang phòng 103 còn Ng sang phòng 104 của nhà nghỉ nằm ngủ.
Khi K và Ng vào phòng 101 thì Th nói với H nếu Th gọi được gái đến bán dâm thì H phải trả cho Th số tiền 1.000.000đ và 200.000đ tiền cho thêm cho Th, thì H đồng ý. Sau đó Th tiếp tục gọi điện cho Phạm Thị H đến nhà Nghỉ Hoàng Sơn để bán dâm cho H. H đã trả trước cho Th số tiền là 800.000đ. Khi H và H đang mua bán dâm tại phòng 105 của nhà nghỉ Hoàng Sơn thì bị Công an thị xã Phổ Yên bắt quả tang như nêu trên
Tại cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 13/3/2019, Viện kiểm sát nhân nhân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Thị Th về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội .
Kt thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Thị Th từ 18-24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-48 tháng.
* Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng hiện không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS.
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp bao cao su nhãn hiệu Beautiful Dream bên trong có 12 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng; 01 bao cao su nhãn hiệu Beautiful Dream chưa qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su và 01 lõi bao cao su đã qua sử dụng
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.300.000đồng do người mua dâm Lê Thanh H trả cho Trần Thị Th ; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO q7 màu hồng tạm giữ của Trần Thị Th khi bắt quả tang do xác định có liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo pH chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án thấp nhất, bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Do hám lợi nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/12/2018, tại nhà nghỉ Hoàng Sơn thuộc xóm Hộ Sơn, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên (do ông Tạ Hoàng H làm chủ), Trần Thị Th đã có hành vi chứa mại dâm cho Lê Thanh H mua dâm Phạm Thị H với giá 1.000.000đ/1 lượt và Ngô Văn K mua dâm Lê Thị Ng với giá 500.000đ/1 lượt. Lê Thanh H là người đứng ra giao dịch và trả trước cho Th 1.300.000đ. Khi H, H đang thực hiện hành vi thì bị tổ công tác của Công an thị xã Phổ Yên phát hiện bắt quả tang.
Riêng K do say rượu nên Ng không cho quan hệ tình dục nên K sang phòng 103 còn Ng sang phòng 104 của nhà nghỉ nằm ngủ đến khi bị Công an thị xã Phổ Yên phát hiện
Hành vi, ý thức của Trần Thị Th đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 BLHS năm 2015. Bản cáo trạng số 42/CT-VKSPY ngày 13/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 327 BLHS năm 2015 quy định:
"1. Người nào chứa mại dâm thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét tính chất vụ án thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội cuả bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng, cũng như thuần phong mỹ tục, nếp sống văn minh của dân tộc, gây mất trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh căn bệnh truyền nhiễm HIV/ AIDS. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu tiên phạm tội, là người lao động thuần túy, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội, trái lại chỉ vì lòng tham, hám lợi đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo có bố là ông Trần Duy Đang mẹ là bà Dương Thị Chắc đều là người có công với Nhà nước, ông Đang hiện là thương binh nên cho bị cáo được hưởng các chính sách đối với người có công, ngoài ra bị cáo là có đơn xin cải tạo tại địa phương, được chính quyền nơi cư trú xác nhận nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS.
Hội đồng xét xử khi lượng hình thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, là phụ nữ, có nhân thân tốt, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, sau khi cân nhắc, xem xét toàn diện vụ án, hoàn cảnh, điều kiện bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, lời thỉnh cầu của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phạt tù giam, áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp được chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ đối với bị cáo
Xử lý vật chứng của vụ án thu giữ : Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng đã thu giữ không có giá trị sử dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 1.300.000đồng và 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo do xác định liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo pH chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong vụ án này, ông Tạ Hoàng H ( là chủ nhà nghỉ Hoàng Sơn) không biết việc Trần Thị Th sử dụng nhà nghỉ Hoàng Sơn để chứa mại dâm, không được hưởng lợi từ hoạt động chứa mại dâm của Th. Tuy nhiên ông H là chủ nhà nghỉ Hoàng Sơn nhưng để xảy ra hoạt động mại dâm nên Công an thị xã Phổ Yên đã đề nghị UBND thị xã Phổ Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H là phù hợp.
Lê Thanh H và Phạm Thị H là những đối tượng mua bán dâm trái pháp luật nên Công an thị xã Phổ Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và H theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Th phạm tội: Chứa mại dâm.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Thị Th 24 ( hai mươi bốn)
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thư thử thách 48 ( bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị Th cho Uỷ ban nhân dân xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS.
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.300.000 đồng ( Một triệu ba trăm nghìn đồng), ( Tại ủy nhiệm chi số 60 ngày 04/04/2019); 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu B3 ghi “điện thoại OPPO q7 màu hồng của Trần Thị Th”.
+Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu M1 ghi “ 01 hộp bao cao su có 12 chiếc bao cao su, 01 chiếc bao cao su chưa qua sử dụng; 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu A2 ghi “ Bao cao su thu tại phòng 105”
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 15/03/2019 ).
4. Án phí: Căn cứ điều 135,136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị Th pH chịu 200.000đ án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Trần Thị Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Thái Nguyên - VKS tỉnh TN - Sở Tư Pháp TN - VKS thị xã Phổ Yên - Chi cục THADS thị xã Phổ Yên - Công an thị xã Phổ Yên - UBND xã nơi BC cư trú; - Bị cáo -Lưu, lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn H Chiều |