vanban.org

Bản án 38/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Khâm tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 38/2019/HSST
Ngày 09 tháng 5 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quàng Văn Tiện

2. Bà Lƣờng Thị Khuyển

- Thư ký phiên toà:

Ông Bùi Quang Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Ông Dƣơng Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn K- Sinh năm 1973; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lƣờng Văn L (đã chết) và bà Lƣờng Thị Đ; Bị cáo chƣa có vợ con;

Tiền án: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/02/2019 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 15h45’ ngày 29/9/2018 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng Khƣơng, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Ten Pạnh, xã Chiềng Khƣơng, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Lƣờng Văn K đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà nghi là Heroin. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 02/10/2018 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, tiến hành cân tịnh xác định khối lƣợng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Cân tịnh số chất bột màu trắng ngà thu giữ của Khâm có khối lƣợng 0,03gam, đã trích hết làm mẫu giám định hiệu K.

Tại bản Kết luận giám định số 1069 ngày 04/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Sơn La kết luận: “ Mẫu trích để giám định ký hiệu K là ma túy; Loại Heroine; Khối lƣợng là 0,03gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,03 gam loại Heroine”.

Quá trình điều tra Lƣờng Văn K khai nhận: Khâm sử dụng chất ma túy từ năm 2006, có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy chƣa đƣợc xóa án tích. Khoảng 12 giờ 00’ ngày 29/9/2018, K đi bộ lên nhà Cà Văn P tại bản Ten Pạnh, xã Chiềng Khƣơng, huyện Sông Mã để thăm P bị ốm, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, K đi bộ về đến khu vực đầu bản Ten Pạnh, xã Chiềng Khƣơng thấy một ngƣời đàn ông đang sử dụng ma túy ở ven đƣờng, K đi đến gần và hỏi xin sử dụng ma túy cùng thì đƣợc ngƣời đàn ông đó đồng ý, sau khi sử dụng xong K xin đƣợc của ngƣời đàn ông đó một ít Heroine gói vào trong túi nilon màu trắng cất trong túi quần với mục đích để sử dụng cho bản thân, khi đi bộ về đƣợc khoảng 200m thì bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng Khƣơng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSSM ngày 07 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lƣờng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 18

- 24 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 15h45’ ngày 29/9/2018, bắt quả tang Lƣờng Văn K có hành vi cất dấu 01 gói chất bột màu trắng ngà nghi là Heroine;

- Vật chứng bị thu giữ gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà nghi là Heroin; Kết luận giám định số 1069 ngày 04/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh Sơn La kết luận số chất bột đã thu của Khâm, đã kết luận: “ Mẫu trích để giám định ký hiệu K là ma túy; Loại Heroine; Khối lƣợng là 0,03gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,03 gam loại Heroine”.

- Bản án số 69/2015/HSST ngày 17/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.

- Tài liệu xác minh về việc thi hành án.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/9/2018 Tổ công tác của Công an huyện Sông Mã và Công an xã Chiềng Khƣơng đã bắt quả tang Lƣờng Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lƣợng ma túy thu giữ đƣợc là 0,03gam, loại chất Heroine, mặc dù khối lƣợng ma túy bị thu giữ ít, tuy nhiên K có một tiền án về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là yếu tố định tội đối với bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy bị cáo tàng trữ và nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy số vật chứng liên quan.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc thái bị cáo khai đã cho bị cáo ma túy, quá trình điều tra không xác định đƣợc đối tƣợng cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn K 18 ( mƣời tám ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giam là ngày 01/02/2019.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) mảnh nilon màu trắng.

+ 01 (một) vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.

( Đƣợc đựng trong 01 phong bì thƣ còn nguyên niêm phong ).

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 09/5/2019./.

Cỡ chữ