- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm về quy định phòng cháy, chữa cháy - phạm tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (điều 313 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 313; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 3 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HS-ST Ngày: 29/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân
Ông Nguyễn Trọng Kiêm
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Đông – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Phan Đình Th Sinh ngày 06 tháng 8 năm 1973 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn A, xã XH, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Đình H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1927; Vợ: Phan Thị V- Sinh năm 1973; Con có bốn đứa, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003. Anh, chị, em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 07. Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19/4/2005 bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng theo quyết định số 295/QĐ-UB ngày 04/02/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh. Đã chấp hành xong ngày 19/02/2007.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 28/6/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
+ Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh Đại diện ông Nguyễn Hải V – Sinh năm 1983 Chức vụ: Phó trưởng ban quản lý Địa chỉ: Số B, đường NgKh, phường Bắc Hồng, TX Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
+ Công ty CP Xăng dầu Thanh Vân Đại diện ông Trần Đức T – Sinh năm 1957 Chức vụ: Phó Giám đốc Công ty Địa chỉ: Phường ĐL, TX HL, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
+ Bà Trần Thị H – Sinh năm 1943 Địa chỉ: XH, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Hạt kiểm lâm huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đại diện: Ông Trần Thanh T – Hạt trưởng (Có mặt)
+ UBND xã XH, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đại diện: Ông Văn Đình Th - Trưởng CA xã (Có mặt)
+ UBND T.T XA, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đại diện: Ông Hoàng Văn Đ – Phó chủ tịch (Có mặt)
+ Chị Phan Thị H – Sinh năm 1998 Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
+ Anh Phan Văn C – Sinh năm 1996 Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt) Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Người làm chứng:
+ Phan Thị V- Sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
+ Võ Văn Ph – Sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
+ Phan Thị B – Sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
+ Nguyễn Văn Tr – Sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
+ Phan Đình Ng – Sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
+ Phan Đình T - Sinh năm 1948; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
+ Hà Văn Th – Sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
+ Lê Thị V – Sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn A, xã XH, huyện Nghi xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2019, bị cáo đi ra sau vườn của gia đình ở Thôn A, xã XH tiếp giáp với rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, thấy có nhiều rác bẩn, lá và cỏ khô nên dùng tay gom lại ở hố cạnh bể tự hoại ở góc vườn, sau đó dùng bật lửa gas châm lửa đốt rác. Khi lửa bén vào rác, do thời điểm thời tiết khô hanh, nắng nóng gay gắt, gió Tây – Nam thổi mạnh nên lửa từ đám rác bị cáo đốt nhanh chóng bén sang cây cỏ xung quanh rồi cháy lan khắp vườn. Bị cáo tìm cách dập lửa nhưng không kiểm soát được, nên gọi lớn để các gia đình sinh sống bên cạnh đến tham gia dập lửa. Sau khi nghe tiếng gọi có một số cá nhân và các hộ dân trong thôn nghe thông báo kéo đến tham gia chữa cháy. Nhưng ngọn lửa lúc này đã cháy lan sang diện tích rừng bạch đàn, rừng thông giáp với vườn của gia đình bị cáo thuộc tiểu khu 90, khoảnh 01 và tiểu khu 92A, khoảnh 2A, khoảnh 3 địa phận xã XH và thị trấn Xuân An, đến ngày 30/6/2019 ngọn lửa mới được khống chế.
Tối ngày 28/6/2019, bị cáo đã đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Xuân để đầu thú về hành vi đốt rác gây cháy rừng của mình.
Hậu quả vụ cháy làm 92,4 ha diện tích rừng phòng hộ bị cháy, trong đó diện tích có rừng trồng thông và bạch đàn là 67,1ha, diện tích đất không có rừng là 25,3ha. Tổng số cây bị chết: 35.797 cây, trong đó cây thông có 32.732 cây của Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh và 2.445 cây của công ty cổ phần xăng dầu Thanh Vân, cây bạch đàn có 620 cây của bà Trần Thị H.
Tại kết luận định giá tài sản số 12 ngày 01/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản kết luận số cây bị cháy nêu trên có thiệt hại: 3.201.851.900 đồng (Ba tỉ, hai trăm linh một triệu, tám trăm năm mốt ngàn, chín trăm đồng)
Ngày 22/8/2019, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Xuân tiến hành lập hội đồng xác định thiệt hại lần hai đối với số cây bị cháy nêu trên. Kết quả kiểm tra xác định tại thời điểm kiểm tra có chết thêm một số cây nhưng có đường kính gốc dưới 05 cm, thiệt hại thêm không đáng kể. Do đó kết luận diện tích rừng bị cháy không thay đổi.
Ngày 03/7/2019, gia đình bị cáo gửi đơn đến cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Nghi Xuân đề nghị giám định tâm thần cho bị cáo. Tại bản kết luận giám định số 384/KLGĐ ngày 22/10/2019 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có biểu hiện hội chứng nghiện rượu nhưng có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Trách nhiệm dân sự:
Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh bị cháy 32.372 cây thông, thiệt hại trị giá 2.958.538.400 đồng (Hai tỷ, chín trăm năm tám triệu, năm trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm đồng). Công ty cổ phần xăng dầu Thanh Vân bị cháy 2.445 cây thông, thiệt hại trị giá 232.696.000 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm chín mươi sáu ngàn đồng). Hai đơn vị này yêu cầu bị cáo đền bù số tiền thiệt hại nêu trên, thiệt hại khác không yêu cầu. Bà Trần Thị H bị cháy 620 cây bạch đàn, thiệt hại 10.617.500 đồng (Mười triệu, sáu trăm mười bảy nghìn năm trăm đồng) và người liên quan không yêu cầu đền bù dân sự.
Lời khai của bị cáo, người bị hại, người liên quan, người làm chứng tại phiên tòa phù hợp với lời khai, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số: 37/CTr - VKSNX, ngày 06/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên trình bày lời luận tội đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Điểm c khoản 3 Điều 313; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 48 Bộ luật hình sự; Các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự
Xử phạt bị cáo 07 năm đến 09 năm tù, tính từ ngày 28/6/2019.
Buộc bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của các bị hại và nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Nghi Xuân; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, những người tiến hành tố tụng. Nên hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Phiên tòa vắng mặt một số người tham gia tố tụng, xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.
Nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phan Đình Th đã có hành vi đốt rác trong điều kiện thời tiết khô, nắng nóng, gió thổi mạnh gây ra hỏa hoạn cháy rừng thiệt hại giá trị 3.201.851.900 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo vi phạm khoản 4 Điều 19 Luật phòng cháy chữa cháy quy định về trách nhiệm của cá nhân khi thực hiện các hoạt động ven rừng phải tuân thủ các quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy; Vi phạm khoản 2 Điều 39 Luật lâm nghiệp quy định về việc sử dụng lửa ven rừng vào mùa khô phải có biện pháp phòng cháy chữa cháy.
Bị cáo sinh ra và lớn lên ở ven rừng phòng hộ, tuy nhận thức được hành vi đốt lửa trong khi thời tiết khô, gió thổi mạnh có thể gây ra hậu quả nhưng vẫn thực hiện, không tuân thủ các quy định về an toàn phòng cháy và chữa cháy theo quy định của của pháp luật gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế cũng như môi trường, gây hoang mang, lo lắng cho nhân dân sinh sống ven rừng.
Tuy bị cáo không cố ý với hậu quả xảy ra nhưng hành vi của bị cáo gây thiệt hại quá lớn. Hiện nay hỏa hoạn thường trực có thể xảy ra bất cứ lúc nào gây ra hậu quả thẩm khóc về người, kinh tế và môi trường, đặt ra cho các cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về phòng cháy, vì vậy hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; đầu thú, bố bị cáo có tham gia cách mạng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại của Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh và Công ty cổ phần xăng dầu Thanh Vân buộc bị cáo phải bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của người bị hại. Thiệt hại khác của người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu HĐXX miễn xét.
. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân:
Về tội danh, áp dụng điều luật và yêu cầu dân sự là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 313; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự;
Các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a, b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1,3 điều 21, điểm a, c khoản 1 điều 23, khoản 2 điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[2]. Tuyên bố bị cáo Phan Đình Th phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
[3] Xử phạt bị cáo Phan Đình Th 07 (Bảy) năm tù, tính từ ngày 28/6/2019.
[4]. Buộc bị cáo Phan Đình Th phải bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh 2.958.538.400 đồng (Hai tỷ, chín trăm năm tám triệu, năm trăm ba mươi tám ngàn bốn trăm đồng) và Công ty cổ phần xăng dầu Thanh Vân 232.696.000 đồng (Hai trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm chín mươi sáu ngàn đồng).
[5]. Buộc bị cáo Phan Đình Th phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 95.824 000 đồng (Chín lăm triệu tám trăm hai tư nghìn) án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại, người LQ; -VKSND huyện, cấp tỉnh; - THA dân sự H Nghi Xuân; - CQCSĐT huyện Nghi Xuân; - CQTHAHS huyện Nghi Xuân; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ, ĐÓNG DẤU) Phạm Huy Bình |