vanban.org

Bản án 19/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S phạm tội: "vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng Thị Q và Vàng Văn S vi phạm quy định về phòng chay chữa cháy - phạm tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (điều 313 Luật sửa đổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S phạm tội: "vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 313 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM NHÙN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2019/HSST
Ngày 12/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bằng

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lò Thị Chương

2. Bà Đinh Thị Thi

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đồng Văn Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2019 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2019/HSST ngày 29/10/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HS ngày 31/10/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vàng Thị Q; tên gọi khác: không;

Sinh năm 1997 tại Nậm Nhùn, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT: Bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khơ Mú; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Vàng Văn L, sinh năm 1962 và con bà Vàng Thị L, sinh năm 1967 (đã chết); bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chồng: Vàng Văn S, sinh năm 1994;

Con: bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Vàng Văn S; tên gọi khác: Không;

Sinh năm 1994 tại Nậm Nhùn, Lai Châu;

Nơi ĐKNKTT: Bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khơ Mú; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Vàng Văn L, sinh năm 1960 và con bà Vàng Thị L, sinh năm 1953 (đã chết); bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Vàng Thị Q, sinh năm 1997.

Con: bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/7/2019 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Những người tham gia tố tụng khác:

1. Đại diện bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984

Trú tại: Bản Nậm Hàng, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt tại phiên toà có lý do).

2. Những người làm chứng:

- Anh Lò Văn M, sinh năm 1987

Trú tại: Bản Nậm Manh,xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên toà).

- Anh Vàng Văn T, sinh năm 1990

Trú tại: Bản Nậm Manh,xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên toà).

- Chị Vàng Thị H, sinh năm 1990

Trú tại: Bản Nậm Manh,xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên toà).

- Anh Lò Văn H, sinh năm 1994

Trú tại: Bản Nậm Manh,xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên toà).

* Người bào chữa cho các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S: Ông Lê Văn Hùng – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 02 năm 2019, Vàng Thị Q, sinh năm 1997 và Vàng Văn S, sinh năm 1994 (là vợ chồng) trú tại bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn đi phát một đám nương của gia đình ven rừng thuộc bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn. Khi thực bì đã khô Qvà S bàn nhau tiến hành đốt vào ngày 17/4/2019. Sáng ngày 16/4/2019 Q và S tiến hành làm đường băng cản lửa để phòng lửa không cháy lan vào rừng khi đốt. Đến khoảng giữa trưa cùng ngày, Q và S chỉ làm được một phần đường băng cản lửa của đám nương (phần phía trên của đầu đám nương, chiều rộng đường băng khoảng 2 mét), phần còn lại của đám nương Q và S không làm đường băng cản lửa. Chiều ngày 16/4/2019, gia đình Q nhận được thông báo của ông Lường Văn L là Phó trưởng bản Nậm Manh thông báo sẽ tổ chức họp bản để triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cho bà con nhân dân trong bản trước mùa đốt nương vào sáng ngày 17/4/2019, nên Q và S hoãn lại việc đốt nương. Sau khi tiếp thu công tác phòng cháy, chữa cháy Q và S bàn bạc, thống nhất việc đốt nương vào sáng ngày 18/4/2019 và phân công Q sẽ là người trực tiếp đốt còn S đứng kiểm tra và canh lửa. Tối ngày 17/4/2019, S đi nhờ Lò Văn M, sinh năm 1987, Vàng Thị H, sinh năm 1990, Vàng Văn Th, sinh năm 1990 và Lò Văn H, sinh năm 1994 đều là người cùng bản đến giúp Q và S canh lửa vào ngày 18/4/2019 và được mọi người đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/4/2019, Q và S , Lò Văn M, Vàng Thị H, Vàng Văn Th và Lò Văn H đến đám nương, theo kế hoạch đã thống nhất từ trước. Q là người trực tiếp dùng bật lửa ga đốt nương (phần dưới của đám nương), những người còn lại dùng bình nước và cành cây canh lửa đề phòng lửa cháy lan vào rừng thì dập tắt. Khoảng 11 giờ ngày 18/4/2019, khi đám nương cháy hết mọi người đi quanh đám nương để kiểm tra lửa, thấy không còn lửa thì mọi người về lán của gia đình Q và S để ăn cơm trưa. Sau khi ăn cơm trưa xong S và Q nghỉ lại lán của gia đình, những người còn lại về nghỉ tại lán của mình. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Q và S phát hiện thấy khói bốc lên từ khu đám nương của gia đình mình vừa đốt trước đó, Q và S đến nơi thì thấy lửa đang cháy lan từ đám nương của gia đình mình vào rừng ngay tại vị trí không làm đường băng cản lửa. Thấy vậy, Q và S gọi Lò Văn M, Vàng Thị H, Vàng Văn Th và Lò Văn H đến giúp dập lửa nhưng lúc này trời nắng nóng và có gió to nên không thể dập tắt được lửa. Sau khi phát hiện cháy rừng chính quyền địa phương cùng các ngành chức năng và nhân dân trong bản Nậm Manh đã tiến hành chữa cháy nhưng đến 20 giờ tối cùng ngày đám cháy mới được khống chế và dập tắt hoàn toàn. Hậu quả rừng tại khoảnh 2, tiểu khu 402 diện tích rừng 36.4 ha loại rừng sản xuất và khoảnh 1, khoảnh 2 tiểu khu 403 diện tích rừng 17,87 ha là loại rừng sản xuất thuộc bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn bị cháy hoàn toàn.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Nậm Nhùn kết luận tài sản bị thiệt hại thuộc các gỗ nhóm V là 44,26 m3 có trị giá tiền 132.780.000 đồng ; gỗ nhóm VI là 78,85m3 có trị giá tiền 197.125.000 đồng; gỗ nhóm VII là 49,79m3 có trị giá tiền 74.685.000 đồng; gỗ nhóm VIII là 59,42m3 có trị giá tiền 59.420.000 đồng và củi 257,92m3 có trị giá tiền 90.272.000 đồng. Tổng giá trị thành tiền bị thiệt hại do Vàng Thị Q và Vàng Văn S gây ra là 554.282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Cáo trạng số 19/CT- VKS-NN ngày 28/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn đã truy tố các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 313 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu vẫn giữ nguyên quan điểm như quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 313; điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù về tội "Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy" và sử lý vật chứng theo quy địnhcủa pháp luật; về án phí áp dụng quy định của pháp luật miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại là Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tổng số tiền là 554,282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Tại phiên toà người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Thị Q và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho hưởng án treo đối với bị cáo Vàng Văn S; áp dụng khoản 5 điều 313 của Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo. Về án phí đề nghị áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư bào chữa;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của các bị cáo, ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm Nhùn, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vào ngày 18/4/2019 tại khoảnh 2, tiểu khu 402 và khoảnh 1, khoảnh 2 tiểu khu 403 thuộc bản Nậm Manh, xã Nậm Manh, huyện Nậm Nhùn các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S có hành vi đốt nương vi phạm điểm c, d tiết 3b khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật phòng cháy, chữa cháy năm 2014; Khoản 2 Điều 39 Luật Lâm nghiệp năm 2017 nên đã gây cháy thiệt hại các loại gỗ nhóm V là 44,26 m3; gỗ nhóm VI là 78,85m3; gỗ nhóm VII là 49,79m3; gỗ nhóm VIII là 59,42m3 và củi 257,92m3. Tổng giá trị thiệt hại thành tiền mà Vàng Thị Q và Vàng Văn S gây ra là 554.282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng).

Hành vi nêu trên các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng” theo qui định tại điểm c khoản 2 điều 313 của Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 2 Điều 313 của Bộ luật hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm:

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đã gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường. Các bị cáo đã chủ động phòng ngừa việc phòng cháy, chữa cháy nhưng không đúng quy định để lửa cháy lan gây thiệt hại khu rừng phòng hộ, thiệt hại xảy ra là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo gây ra trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đến sản xuất của nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy việc đưa các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S ra truy tố và xét xử là rất cần thiết thông qua công tác xét xử, trước hết để bị cáo thấy được ý thức trách nhiệm của mình trong công tác phòng cháy chữa cháy đồng thời để tuyên truyền đến người dân hiểu biết về pháp luật. Ngoài ra người gây ra thiệt hại ngoài trách nhiệm hình sự còn phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra.

Xét quan điểm của người bào chữa và những phân tích đánh giá cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Thị Q. Về án phí đề nghị áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa. Đối với đề nghị của người bào chữa áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Vàng Văn S được hưởng án treo, xét thấy các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S cùng thực hiện hành vi đốt nương với lỗi vô ý như nhau và hành vi phạm tội như nhau, các bị cáo đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng mức hình phạt tương xứng cho bị cáo và cũng để tuyên truyền đến người dân hiểu biết thêm pháp luật về phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của người bào chữa là chưa phù hợp nên không chấp nhận đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn S là cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Xong khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S tại phiên toà và trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phát hiện cháy lan vào rừng các bị cáo đã nhanh chóng gọi và hô hào mọi người cùng dập lửa chữa cháy ngăn chăn làm giảm bớt hậu quả cháy rừng, các bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường một phần thiệt hại cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn để khắc phục hậu quả việc mà các bị cáo gây ra, các bị cáo là hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật còn hạn chế, sống ở khu vực khó khăn, do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo có khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo theo quy định tại khoản 5 điều 313 của Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng của vụ án:

01 bật lửa ga là công cụ của bị cáo dùng đốt nương gây cháy rừng. Xét đây là công cụ phạm tội cần tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn ông Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt đại diện bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn là số tiền 554.282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng); cụ thể yêu cầu bị cáo Vàng Thị Q bồi thường 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), bị cáo Vàng Văn S phải bồi thường 254.282.000 đồng (hai trăm năm mươi tư triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng). Xét thấy yêu cầu của bị hại là có căn cứ và hợp pháp và các bị cáo cũng đều nhất trí bồi thường như yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự để buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu số tiền là 554.282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng).

. Về án phí: Các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S là gia đình hộ nghèo của xã Nậm Manh, có đơn xin miễn án phí và sinh sống thuộc khu vực đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S phạm tội: "vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy".

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 313 Bộ luật hình sự; điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Xử phạt bị cáo Vàng Thị Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Áp dụng khoản 5 Điều 313 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu đỏ, bật lửa ga đã qua sử dụng là công cụ phạm tội của các bị cáo Vàng Thị Q và Vàng Văn S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/10/2019 giữa Cơ quan Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu với Chi cục thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu).

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu toàn bộ số tiền 554.282.000 đồng (Năm trăm năm mười bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng); cụ thể bị cáo Vàng Thị Q bồi thường 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), bị cáo Vàng Văn S phải bồi thường 254.282.000 đồng (hai trăm năm mươi tư triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng) cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo Vàng Thi Q và Vàng Văn S.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay niêm yết bản án.

Cỡ chữ