- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TU bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HS-ST Ngày: 29-3-2019 nh©n danh |
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n quËn T©y Hå, Thµnh phè Hµ Néi
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tỉnh
2. Bà Ngô Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa:
Bà Đào Thị Thúy-Là Thư ký Tòa án nhân
dân quận Tây Hồ,Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên toà:
Bà Đàm Thị Tú-Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2019/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Lường Văn H, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Bản C C1, xã T T1, huyện T2 U, tỉnh L C3; Chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn P và bà Lò Thị P1 (tên gọi khác P3); Vợ: Lò Thị T3; Con: có 01 con sinh năm 2017; Danh chỉ bản số 000000024 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 19/12/2018; Tiền án: 01 tiền án chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân T: Ngày 29/8/2013TAND tỉnh L C3 xử phạt 04 tháng 25 ngày tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển P tiện giao thông đường bộ (Bản án số 20/2013/HSPT ngày 29/8/2013; Quyết định trả tự do cho bị cáo số 24/HSPT ngày 29/8/2013Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo); Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
Néi dung vô ¸N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 12/12/2018, Lường Văn H đi bộ đến khu vực ngõ 81 Lạc Long Quân, phường Xuân la, quận Tây Hồ, Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đầu ngõ 81 Lạc Long Quân, H đứng ở đó khoảng 3 phút thì có người đàn ông tên Hà đi xe máy đến. H biết người này có bán ma túy nên hỏi mua. H đưa cho Hà 150.000 đồng, Hà đưa cho H 01 túi nilông màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc bên trong gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng, là ma túy heroin. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu trong người rồi đi bộ đến đầu ngõ 15 Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, H đã tự tay lấy trong người ra 01 túi nilông màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho cơ quan công an và khai nhận đó là ma túy loại heroin, H mua để sử dụng cho bản T. Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa H về trụ sở công an phường Xuân La để giải quyết.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilông màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc bên trong gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, có số Imei: 354083094535067.
Ngày 12/12/2018, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của H (tổ 4A cụm 6, Phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội), không phát hiện, thu giữ đồ vật gì.
Tại bản kết luận giám định số 9401/KLGĐ - PC54 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Lường Văn H là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,170gam.
Tại CQĐT và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai nhân chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng tên Hà bán ma túy cho H, H khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, do vậy CQĐT không xác minh làm rõ được.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, ngày 10/01/2019, Lường Văn H bị Cơ quan CSĐT, Công an huyện T2 U, tỉnh L C3 ra quyết định khởi tố vụ án số 08 và quyết định khởi tố bị can số 22 về tội Trộm cắp tài sản. Hiện vụ án đang trong gia đoạn điều tra.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKSTH ngày 15/3/2019 của Viện kiểm sát (VKS) nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố Lường Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện VKS kết luận vụ án: Giữ ngU quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1, 5 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo từ 18(mười tám) đến 24(hai mươi bốn) tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị cáo tàng trữ, tịch thu sung quỹ nhà nước 1 điện thoại di động thu giữ của bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NhËn ®Þnh cña Tßa ¸n:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, VKSND quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/12/2018, tại khu vực ngõ 15 đường Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội, Lường Văn H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 01 túi ni lông bên trong có một gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,170gam, mục đích để sử dụng cho bản T thì bị công an phường Xuân La bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như luận tội của đại diện VKSND quận Tây Hồ là đúng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS và là một trong những ngU nhân gây ra tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân T của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo có nhân T xấu, có 01 tiền án, tại bản án số 20/HSPT ngày 29/8/2013 TAND tỉnh L C3 xử phạt bị cáo 04 tháng 25 ngày tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển P tiện giao thông đường bộ, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, tuy nhiên xác minh tại thi hành án dân sự huyện T2 U, tỉnh L C3, bị cáo chưa nộp một phần số tiền là 3.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nên bản án này bị cáo chưa được xóa án tích, do vậy lần phạm tội này xác định bị cáo T1 trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[4] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị cáo tàng trữ; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, có số Imei: 354083094535067 thu giữ của bị cáo, bị cáo khai là của bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
TU bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106; 331, 333, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lường Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2018.
Xử lý vật chứng (hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ biên bản giao nhận tài sản ngày 14/3/2019):
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy bị cáo Lường Văn H tàng trữ gồm: 01 (một) bao niêm phong, được dán kín được đóng dấu của cơ quan CSĐT, có chữ ký của bị cáo và chữ ký của giám định viên, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,170gam thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, có số Imei: 354083094535067 thu giữ của bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án.
| Nơi nhận: - VKSND quận Tây Hồ; - CCTHADS quận Tây Hồ; - CA quận Tây Hồ; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |