vanban.org

Bản án 38/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 15/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UB…

Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt : Xử phạt Tạ Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/4/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UB…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 38/2019/HS-ST
Ngày 15/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung

Các Hội thẩm nhân dân :

Bà Nguyễn Thị Vân, Cán bộ hưu huyện Ứng Hòa;

Ông Nguyễn Bá Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Huy Cường.

- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Trần Bá Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 36/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo : TẠ VĂN T, sinh năm 1981, sinh quán và nơi cư trú : Thôn N, thị trấn V, huyện U, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo: Không. nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 01/12; con ông : Tạ Văn M, sinh năm 1953; con bà : Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; vợ : Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1987; con : có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự : Không; nhân thân : Ngày 22/8/2005, bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kan, tỉnh Bắc Kan xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương; ngày 25/01/2018, bị Công an huyện Ứng Hòa xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy"; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Chị Bùi Thị Thanh Hi, sinh năm 1987; trú tại : Thôn N, thị trấn V, huyện U, thành phố Hà Nội, có mặt.

Người làm chứng : Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; trú tại : Phố Lê Lợi, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 15 giờ ngày 22/4/2019, Tạ Văn T xe máy từ nhà đến khu vực xã Phương Tú, Ứng Hòa, Hà Nội tìm mua ma túy sử dụng. Tại khu vực này, T hỏi mua được 02 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào trong bít tất đang đi bên chân trái rồi đi xe máy về. Khi đi đến khu vực phố Trần Đăng Ninh, thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa thì bị lực lượng Công an huyện Ứng Hòa kiểm tra. Tại chỗ, Trường tự giao nộp 02 gói ni lông, trong đó: có 01 gói bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 gói bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng, T khai nhận đó là 02 gói ma túy để sử dụng. Lực lượng Công an niêm phong gói ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng vào phong bì thư đề mẫu A1, niêm phong gói ni lông bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu hồng vào phong bì thư đề mẫu A2. Ngoài ra, còn thu giữ của Trường 01 xe máy nhãn hiệu SUZUKI màu xanh trắng đã cũ, không có biển kiểm soát. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tạ Văn T tại Ngọ Xá, thị trấn Vân Đình, Ứng Hòa không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày 22/4/2019, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứng Hòa đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 81 tại Phòng PC09- Công an Thành phố Hà Nội đối với vật chứng thu giữ của Tạ Văn T. Tại bản kết luận giám định số 2558/KLGĐ-PC09 ngày 28/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận:

- "Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng : 2,419 gam (mẫu A1)";

- "10 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 gói ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,994gam (mẫu A2).

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 36/CT - VKS ngày 11/6/2019 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo đểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà :

- Bị cáo thừa nhận hành vi như đã nêu trên;

- Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/4/2019 không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại; tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước một xe máy nhãn hiệu SUZUKI màu xanh – trắng đã cũ, không có biển kiểm soát (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 12/6/2019 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý). Về án phí : Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Tạ Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Bị cáo Tạ Văn T là người nghiện chất ma túy nên ngày 22/4/2019 Trường đã đến khu vực thôn Động Phí, Phương Tú, Ứng Hòa tìm mua được 02 gói ma túy với giá 500.000đ mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Kết quả giám định là Methanphetamine, có tổng khối lượng 3,413gam.

Bằng hành vi mua, cất giữ trái phép chất ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng của Tạ Văn T. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo với hành vi và điều, khoản, tội danh trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.

Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Tạ Văn T : T khai không biết người này là ai, ngoài ra không còn nguồn thông thin nào khác để để làm rõ, cơ quan điều tra đã đã xác minh nhưng không làm rõ được nên không bị xử lý trong vụ án này.

Xử lý vật chứng :

- Đối với chiếc xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI màu xanh đã cũ; số khung: E42BVN116127; số máy: E407VN116127 của bị cáo Thành đã sử dụng đi mua ma túy, xe không có giấy tờ mua bán, không có đăng ký. Qua tra cứu : Không phải vật chứng của vụ án khác nhưng không rõ nguồn gốc, giá trị thấp, là vật không đủ điều kiện lưu thông (Vật cấm lưu hành) nên tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước;

- Số Hêrôin sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về án phí, quyền kháng cáo : Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm - Theo Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1.Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt : Xử phạt Tạ Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 22/4/2019).

3. Về xử lý vật chứng :

- Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là số Hêrôin sau giám định gửi lại, đựng trong 02 (Hai) phong bì niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Phạm Đình Đạo và bị cáo Tạ Văn T, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong;

- Tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI màu xanh đã cũ; số khung: E42BVN116127; số máy: E407VN116127.

(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 12/6/2019 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).

4. Về án phí : Buộc bị cáo Tạ Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình)./.

Cỡ chữ