- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Quang S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HS-ST Ngày: 29/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Trường, ông Hoàng Ngọc Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
LÊ QUANG S - sinh năm: 1976 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang H - sinh năm: 1944 và bà Vũ Thị H - sinh năm 1950; có vợ: Nguyễn Thị T - sinh năm 1976 và 01 con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2012/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2012 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, xử phạt S 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. S chấp hành xong án phí ngày 25/6/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/8/2013.
Tạm giữ: Không
Tạm giam: Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/6/2019 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 20/6/2019 tại phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an huyện T đang tuần tra thì phát hiện Lê Quang S - sinh năm 1976, thường trú tại: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra và thu giữ 02 gói giấy tại túi quần bên phải của S đang mặc, trong đó 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, bên trong có chất bột cục màu trắng; 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chất bột cục màu trắng. Lê Quang S khai nhận chất bột cục màu trắng bên trong 02 gói giấy là Heroine, S vừa mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 280.000đ, mục đích để S sử dụng. Tổ công tác Công an huyện Thanh Sơn đã lập biên bản kiểm tra người có hành vi vi phạm pháp luật, niêm phong vật chứng và đưa S về Công an huyện Thanh Sơn để làm việc.
Tại Công an huyện Thanh Sơn, Lê Quang S đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Bản thân S là người nghiện ma túy, thường sử dụng loại ma túy Heroine. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, S đi bộ ra đường tỉnh lộ 316 thuộc khu Đ, xã T, huyện T thì gặp một người đàn ông đi xe máy nên S đi nhờ xe của người này đến khu vực bến xe T thuộc phố B, thị trấn T, huyện T. Tại đây S thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi không quen biết, S đến nói chuyện và biết người này nghiện ma túy và có Heroine bán nên S đã hỏi mua ma túy để sử dụng, người đàn ông này đồng ý bán. Trong quá trình nói chuyện, S có hỏi người đàn ông này về tên, tuổi và địa chỉ nhưng người này không nói. S đưa cho người đàn ông này 280.000đ sau đó người đàn ông này đưa cho S 02 gói ma túy loại Heroine, S cho 02 gói Heroine vào túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng hơn 11 gờ cùng ngày, S đang đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Thanh Sơn phát hiện kiểm tra, thu giữ của S 02 gói giấy bên trong đều có chất bột cục màu trắng là ma túy loại Heroine, trong đó 01 gói có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng; 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng.
Ngày 20/6/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã yêu cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ giám định: Chất bột, cục màu trắng trong 02 gói giấy thu giữ của Lê Quang S có phải chất ma túy không? Loại ma túy gì? Trọng lượng (khối lượng) của mẫu vật gửi đến giám định là bao nhiêu?
Tại bản kết luận giám định số 726/KLGĐ ngày 23/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy trong đó 01 gói có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng; 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,224 gam, loại: Heroine”
Hoàn trả lại đối tượng giám định là 0,163 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được dán kín, niêm phong trong 01 bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan.
Ngày 24/6/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Sơn đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Quang S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tài sản của bị cáo: Ngoài nhà và quyền sử dụng đất tại xã Thạch Khoán, bị cáo không có tài sản gì khác có giá trị.
* Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 29 tháng 7 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố bị cáo Lê Quang S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn không thay đổi, bổ sung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Quang S từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 26/6/2019.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một bì giấy niêm phong số 726/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, bên trong có 0,163 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Chứng cứ buộc tội:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lê Quang S khai nhận hành vi phạm tội như sau: Hồi 11 giờ 10 phút ngày 20/6/2019 tại Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang Lê Quang S đang tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, thu giữ tại túi quần bên phải của S đang mặc gồm 02 gói giấy bên trong đều có ma túy, tổng trọng lượng là 0,224 gam ma túy loại Heroine.
Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; Biên bản kiểm tra người có hành vi vi phạm pháp luật; Lời khai người chứng kiến; Vật chứng vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được sử dụng ma túy là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV và những căn bệnh khác nhưng vẫn sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Tại bản kết luận giám định số 726/KLGĐ ngày 23/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận “Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy thu giữ của S gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,224 gam, loại: Heroine”. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .............................;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amthamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Đối với người bán ma túy cho S nhưng S không biết tên, tuổi và địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ người đã bán ma túy cho Sơn để xử lý trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án này.
Tính chất vụ án; Nhân thân, tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là “Bố đẻ bị cáo có công với Nhà nước nên được tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3 và Huy chương vì sự nghiệp địa chất Việt Nam”. Xét thấy nhân thân bị cáo là xấu, đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đi cải tạo tập trung nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội về ma túy, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ và các quy định của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo S từ 12 tháng đến 18 tháng tù là phù hợp. Vì vậy, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định. Xét thấy bị cáo không có tài sản gì có giá trị và là người lao động tự do nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Xét thấy 0,163 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau khi giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì số 726/KLGĐ ngày 23/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Quang S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lê Quang S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 26/6/2019.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy một bì giấy niêm phong số 726/KLGĐ ngày 23/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ, bên trong có 0,163 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Quang S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Thanh Sơn; - Chi cục THADS huyện Thanh Sơn; - Công an huyện Thanh Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo, - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |