- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HS-PT Ngày: 26 - 3 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang; ông Bùi Đình Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 13/2019/HSPT ngày 25 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1970 tại xã Đức L, huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh; trú tại: Thôn Tân T, xã Đức L, huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông Trần Xuân N và bà Trần Thị L (đã chết); vợ: Nguyễn Thị C; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị: Trần Minh K (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Trần Thị T (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/11/2018, Trần Văn T đi bộ đến nhà bà Trần Thị T (Mẹ Trần Minh K) để mua thuốc lá, khi đến nơi gặp K nên T nói: “Làm hồi tiến lên cho vui” (ý rủ K đánh bài tiến lên miền Nam ăn tiền). K đồng ý và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ ở quầy bán hàng, 01 chiếc chiếu nhựa có sẵn từ trước, trải trên nền nhà và quy định luật chơi để đánh bài ăn tiền. Cả hai người đánh bài tiến lên được khoảng 10 phút thì K nói: “Ta làm hồi Liêng” (ý rủ T chuyển sang đánh bài Liêng ăn tiền), T đồng ý rồi quy định cách chơi. Trần Văn T sử dụng 8.000.000 đồng để đánh bạc; Trần Minh K sử dụng 7.900.000 đồng để đánh bạc. T và K đánh bài ăn tiền đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 22.130.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu nhựa hoa văn màu vàng xanh và 01 chiếc ví da màu đen.
Với hành vi phạm tội trên, tại bản án số: 23/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh đã Quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 07/01/2018, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án, sau khi xem xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm về cơ bản phù hợp với bản án sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng thời gian từ 16 giờ 30 phút đến 17 giờ 10 phút ngày 05/11/2018, tại thôn Tân T, xã Đức L, huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Văn T và Trần Minh K đang cùng nhau thực hiện hành vi đánh bài được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Tiến lên miền Nam” và đánh “Liêng”, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 15.900.000 đồng thì bị cơ quan điều tra Công an huyện Đức T phát hiện và bắt quả tang. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
2 Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Với hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ. Tuy nhiên xét bị cáo có bố là thương binh, bị tai biến đang điều trị tại bệnh viện; vợ bị u, con vừa mổ tim. Đây là những căn cứ cấp sơ thẩm chưa xem xét. Mặt khác, bị cáo tuy là người rủ rê nhưng Kiêm lại là người chuẩn bị công cụ, địa điểm. Do đó cần sử bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo đẻ thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[3 Về án phí: Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn T thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T. Sửa bản án sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đức L, huyện Đức T, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Trần Văn T
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - TA, VKS, CA, THA huyện Đức T; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Phòng PV 27 CA tỉnh Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |