vanban.org

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phùng Như T đối với anh Huỳnh Kim T

Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Phùng Như T được ly hôn với anh Huỳnh Kim T. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Huỳnh Kim Nhật P, sinh ngày25/7/2018 cho chị Phùng Như T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phùng Như T đối với anh Huỳnh Kim T
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 10 năm 2019
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Thảo

2. Ông Đỗ Xuân Phi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 280/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 280/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Phùng Như T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ 9 phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Kim T, sinh năm 1996. Địa chỉ: 121/2 Yên Khê 2, tổ 35 phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 04 tháng 6 năm 2019, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - chị Phùng Như T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Phùng Như T) và anh Huỳnh Kim T xây dựng gia đình vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng chúng tôi về chung sống với gia đình chồng tại tổ 35 phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cho đến tháng 4 năm 2019 thì sống ly thân nhau, tôi đưa con về sống cùng nhà mẹ, vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ và không quan tâm nhau nữa.

Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Huỳnh Kim T.

- Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 01 người con chung là Huỳnh Kim Nhật P, sinh ngày 25/7/2018.

Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Huỳnh Kim T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Khê đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh Huỳnh Kim T, để biết việc chị Phùng Như T gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với anh Huỳnh Kim T, nhưng anh T không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân quận Thanh khê đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều: 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Đối với các đương sự:

+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;

+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều: 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc chị Phùng Như T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Kim T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phùng Như T được ly hôn với anh Huỳnh Kim T.

Về con chung: Xét thấy chị Phùng Như T có nghề nghiệp có thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung mặt khác con chung con nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi, vì vậy đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của chị Phùng Như T

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phùng Như T xác định không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Phùng Như T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Kim T có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại tổ 35 phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng pháp luật.

- Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Huỳnh Kim T tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Huỳnh Kim T

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Như T và anh Huỳnh Kim T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2018, đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, chị Phùng Như T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh Huỳnh Kim T, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét yêu cầu của Chị Phùng Như T thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo chị T thì trong thời gian chung sống với nhau giữa chị và Huỳnh Kim T không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau và từ tháng 4 năm 2019 vợ chồng đã sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do anh Huỳnh Kim T không hợp tác, điều này thể hiện anh Huỳnh Kim T không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phùng Như T đối với anh Huỳnh Kim T là thoả đáng, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về quan hệ con chung: Chị Phùng Như T và anh Huỳnh Kim T có 01 ngừoi con chung là Huỳnh Kim Nhật P, sinh ngày 25/7/2018.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; còn anh Huỳnh Kim T không có ý kiến gì về nguyện vọng được nuôi con chung của chị T.

Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của các cháu và điều kiện thực tế của mỗi bên. Chị Phùng Như T có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, con chung hiện dưới 36 tháng tuổi cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ do đó cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phùng Như T xác định không có nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chị Phùng Như T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Phùng Như T đối với anh Huỳnh Kim T

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Phùng Như T được ly hôn với anh Huỳnh Kim T.

2.Về quan hệ con chung: Giao con chung là Huỳnh Kim Nhật P, sinh ngày25/7/2018 cho chị Phùng Như T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phùng Như T xác định không có nên hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng chị Phùng Như T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Thủy đã nộp tại biên lai thu số 0004885 ngày 20/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Như vậy chị T đã nộp đủ án phí;

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ