vanban.org

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N đối với bà Hồ Thị Th Th.

Về quan hệ hôn nhân: ông Bùi Văn N được ly hôn với bà Hồ Thị Thanh Th. Về nuôi con chung: giao cho bà Hồ Thi Thanh Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Quang Th, sinh ngày 10/01/2016. Ông Bùi Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 700.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 6/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Bùi Văn N ly hôn với bà Hồ Thị Thanh Th"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N đối với bà Hồ Thị Th Th.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-6-2019
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Văn Nhị

2/ Ông Phạm Văn Nhàn

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2019/TLST-HNGĐ, ngày 26/4/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27/5/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1983.(có mặt)

Địa chỉ: ấp 4, xã A, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Hồ Thị Thanh Th, sinh năm: 1984.(có mặt)

Địa chỉ: ấp 6, xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2019, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Bùi Văn N có nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân, ông N và bà Th tự tìm hiểu được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 116/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hạnh phúc, cuộc sống chung không hòa hợp, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay, nay ông N xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên ông N yêu cầu được ly hôn với bà Th. Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Quang Th, sinh ngày 10/01/2016; ly hôn ông N đồng ý để bà Th nuôi con và ông N cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Hồ Thị Thanh Th trình bày: về quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn đúng như lời ông N trình bày, nay ông N yêu cầu ly hôn thì bà Th không đồng ý vì vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, lý do ông N yêu cầu ly hôn là không chính đáng, con còn nhỏ.

Về chia tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng hai bên không đoàn tụ được, ông N kiên quyết ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của ông Bùi Văn N tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Bùi Văn N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Thanh Th. Bà Th cư trú tại xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ông N và bà Th tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 26/10/2012 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 116/2012 tại Ủy ban nhân xã B, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay. Nay ông N thấy tình cảm vợ chồng không còn không thể hàn gắn được nên ông Bùi Văn N yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Thanh Th. Bà Th có đến Tòa để giải quyết, có ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay mà bà Th không đưa ra bất kỳ giải pháp nào hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông N và bà Th là trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của ông N là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Quang Th, sinh ngày 10/01/2016 hiện con đang ở với bà Th và ông N đồng ý để bà Th nuôi con nên giao cháu Th cho bà Th nuôi để ổn định tâm lý của đứa trẻ. Bà Th không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con, ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Ông N được quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết phần chia tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về án phí: ông Bùi Văn N là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn N đối với bà Hồ Thị Th Th.

Về quan hệ hôn nhân: ông Bùi Văn N được ly hôn với bà Hồ Thị Thanh Th.

Về nuôi con chung: giao cho bà Hồ Thi Thanh Th được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Bùi Quang Th, sinh ngày 10/01/2016. Ông Bùi Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 700.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 6/2019 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Mặc dù không được trực tiếp nuôi con chung nhưng ông Bùi Văn N có quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung thì cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con; mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không giải quyết.

2/ Về án phí: Ông Bùi Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001858, ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ông Bùi Văn N phải nộp thêm 300.000 đồng. Bà Hồ Thị Thanh Th không phải chịu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn, bị đơn biết nếu không đồng ý với quyết định của bản án thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 06/6/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ