- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đinh Hữu H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2019 “V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Thêm.
2. Ông Trần Xuân Hòa.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hƣng Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2019/TLST-HNGĐ, ngày 05/6/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 41/QĐXX-ST, ngày 09/7/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - sinh năm: 1980. có mặt.
Quê quán: Xã M huyện M tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
HKTT: Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên.
2. Bị đơn: Anh Đinh Hữu H - sinh năm: 1980. Vắng mặt
HKTT, trú tại: Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cháu Đinh Hữu P - sinh ngày 22/11/2011. (vắng mặt)
HKTT: Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên.
4. Người giám hộ cho cháu P: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 là mẹ đẻ của cháu, có mặt.
5. Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị B - sinh năm 1954 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị xây dựng gia đình với anh Đinh Hữu H, sinh năm 1980, hiện trú tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai ép buộc, anh, chị đã được UBND xã T đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 02 năm 2010.
Sau khi tổ chức lễ cưới, chị chuyển khẩu và về chung sống với anh H tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên được một năm, sau đó cả hai vợ chồng chuyển ra thành phố U tỉnh Quảng Ninh làm ăn, nhưng vẫn thường xuyên về quê thăm gia đình. Ngay từ thời gian đầu chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm lối sống, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, anh H mải chơi bời không quan tâm đến vợ, con, mặt khác, chị sinh ra và lớn lên ở miền Nam nên khi về miền Bắc chung sống cùng anh H cuộc sống không thể hòa hợp, gia đình cũng đã nhiều lần động viên, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đến cuối năm 2017, vợ chồng chị đã ly thân, chị chuyển ra ngoài thành phố U, Quảng Ninh sinh sống còn anh H vẫn sinh sống tại T, kể từ khi ly thân cả hai không tìm gặp để vợ chồng đoàn tụ. Nay xét thấy tình cảm không còn chị xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung là cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011, hiện đang ở với chị, nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P, việc đóng góp nuôi con chung, chị không yêu cầu anh H phải có trách nhiệm.
Về tài sản chung, về công nợ chung, về công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03: Không có gì liên quan nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 25/6/2019, bị đơn anh Đinh Hữu H trình bày: Anh xây dựng gia đình với chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1980, quê quán tại xã M huyện M tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Anh, chị đã được UBND xã T đăng ký kết hôn vào ngày 23/02/2010.
Sau khi kết hôn, chị L chuyển khẩu và về chung sống cùng anh tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên. Ngay thời gian đầu chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị L sinh ra và lớn lên ở miền nam nên khi ra miền bắc sinh sống có nhiều khác biệt dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống, kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng sống không được hạnh phúc, đã ly thân từ năm 2017, cả hai không tìm gặp để vợ chồng đoàn tụ. Nay chị L xin ly hôn, anh nhất trí không có ý kiến gì khác.
Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung là cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011, hiện đang ở với chị L, nếu ly hôn, tùy nguyện vọng của cháu P và Tòa án quyết định cháu ở với ai, việc đóng góp nuôi con chung, tùy chị L quyết định.
Về tài sản chung, về công nợ chung, về công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03: Không có gì liên quan nên anh không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Trong thời gian Tòa án thụ lý, giải quyết anh có nhận được Thông báo về việc Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu đang giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị L nhưng do công việc anh không đến được, anh đề nghị và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/6/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Đinh Hữu P trình bày: Cháu là con của anh Đinh Hữu H và chị Nguyễn Thị L, có hộ khẩu thường trú tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên, hiện nay cháu đang ở cùng với chị L tại thành phố U tỉnh Quảng Ninh.
Từ trước đến nay cháu đều ở với mẹ, cháu không biết lý do tại sao bố cháu không quan tâm đến mẹ con cháu, khoảng 02 năm trở lại đây cháu không gặp bố cháu, cháu còn nhỏ không chứng kiến, không biết nguyên nhân bố, mẹ cháu không ở cùng nhau. Nay cháu được biết bố mẹ các cháu đang làm thủ tục ly hôn, nếu bố mẹ các cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ cháu, vì từ trước đến nay cháu đều ở với mẹ, mẹ cháu là người thường xuyên quan tâm, chăm lo cho cháu.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2019, người làm chứng là bà Lê Thị Bải trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Đinh Hữu H, sinh năm 1980. Hiện trú tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên.
Quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn và chung sống đúng như chị L đã trình bày. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng văn hóa, lối sống, kinh tế gặp khó khăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và không hạnh phúc, bà cùng gia đình nhiều lần khuyên giải, động viên nhưng không cải thiện được tình cảm của anh, chị. Vợ chồng anh H, chị L đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay.
Về con chung: Vợ chồng anh, chị có một con chung là cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011, hiện đang ở với với chị L.
Về tài sản chung, công nợ chung, về đất nông nghiệp 03 của hai vợ chồng về công sức đóng góp với gia đình bà: không có gì liên quan.
Bà đã nhiều lần nhận được thông báo, giấy triệu tập yêu cầu anh H đến Tòa án làm việc, bà có thông báo lại cho anh H biết, anh H nhất trí ly hôn nhưng vì bận công việc nên không đến theo yêu của Tòa án được, tuy nhiên anh H cũng đã gửi cho Tòa án bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt. Nay chị L xin được ly hôn với anh H tùy vợ chồng anh H, chị L quyết định.
Qua xác minh tại UBND xã T ngày 04/7/2019 xác định: Chị Nguyễn Thị L và anh Đinh Hữu H xây dựng gia đình trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, anh, chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 23/02/2010, sau khi cưới, chị L chuyển về chung sống với anh H tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi. Vợ chồng anh, chị có một con chung là cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011, hiện đang ở với với chị L. Việc chị L xin được ly hôn với anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Chị Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên quan điểm, yêu cầu xin ly hôn và các quan hệ liên quan như đã khai tại Tòa án trước đây.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn vắng mặt không tuân theo quy định của pháp luật.
2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, giao cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; sau khi ly hôn anh H được quyền thăm nom và quyền xin thay đổi nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của anh H, chị L đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 30/5/2019, chị Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện anh Đinh Hữu H, xin được ly hôn và giải quyết về con chung cũng như các vấn đề có liên quan, anh Đinh Hữu H có hộ khẩu thường trú, trú tại Thôn X xã T huyện K tỉnh Hưng Yên. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt, đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy, căn cứ khoản 1 điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đinh Hữu H kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đã được UBND xã T huyện K tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn vào ngày 23/02/2010. Do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau, không tìm gặp để vợ chồng hòa giải đoàn tụ, cuộc sống hạnh phúc gia đình đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cho chị L được ly hôn với anh H để cả hai sớm tạo lập cuộc sống mới.
3. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đinh Hữu H có một con chung là cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011, hiện cháu đang sinh sống cùng chị L, cháu P thường xuyên ở với chị L, cuộc sống ổn định và đảm bảo, cháu P có nguyện vọng được ở với chị L, chị L có quan điểm được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P, anh H có quan điểm tùy nguyện vọng cháu P và pháp luật quyết định, căn cứ Điều 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình, cần giao cháu P cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị L không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn anh H có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Do chị L không yêu cầu và anh H vắng mặt, chưa có ý kiến và yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào anh, chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đinh Hữu H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đinh Hữu P, sinh ngày 22/11/2011 cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc đóng góp, cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Anh Đinh Hữu H có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung; công nợ chung của vợ chồng; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Khi nào chị Nguyễn Thị L và anh Đinh Hữu H có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo Biên lai số 0001242, ngày 05/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị L đã thi hành xong phần án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/7/2019). Bị đơn (vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hƣng Yên; - VKSND huyện Khoái Châu; - Các đƣơng sự; - UBND xã T; M - Chi cục THADS huyện KC; - Lƣu: Hồ sơ, Vp. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |