vanban.org

Bản án 38/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 04/03/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hoàng thị Nhƣ M.

Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93 /2018/ HNGĐ – ST, ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa và quyết định như sau : Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phan Anh H và chị Hoàng Thị Nhƣ M Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HỒNG - MINH"
  • Tòa quyết gì? Xử : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hoàng thị Nhƣ M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án sè: 38 /2019/HNGĐ- PT.
Ngày : 4/3/2019
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Các Thẩm phán :

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Bà Bùi thị Thu Hồng

Thư ký Toà án nhân dân TP Hà Nội ghi phiên toà : Bà Đinh Thúy Hương Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội : Bà Trịnh Thu Tân - KSV

Ngày 4 tháng 3 năm 2019 , tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm, công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số:12/2019/TLPT - HNGĐ ngày 4 tháng 1 năm 2019 về tranh chấp: ly hôn .

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93 /2018/ HNGĐ – ST, ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2018/QĐPT – HNGĐ ngày 14 tháng 2 năm 2019, giữa các đƣơng sự : Nguyên đơn: Anh Phan Anh H

sinh năm 1976 Hiện ở : Chung cƣ HH1 phƣờng Phƣơng Mai – Quận Đống Đa - Hà Nội. Bị đơn:

Chị Hoàng thị Như M

sinh năm 1977 Cùng trú tại: P 306 nhà I3 ngõ 91/2 Lƣơng Định Của – phƣờng Phƣơng Mai – Quận Đống Đa - Hà Nội. Anh H, chị M có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn xin ly hôn và lời khai tại cấp sơ thẩm anh Phan Anh H trình bày :

Anh Phan Anh H và chị Hoàng Thị Nhƣ M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 02/8/2002 tại ủy ban nhân dân xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh Hà Nội, sau khi kết hôn anh H , chị M chung sống cùng nhau ở nhiều nơi khác nhau, cho đến năm 2008 vợ chồng mua đƣợc căn hộ tại địa chỉ phòng 306 nhà I3 ngõ 91/2 phố Lƣơng Định Của, phƣờng Phƣơng Mai, quận Đống Đa- Hà Nội và chung sống ở đó cho đến nay.

Quá trình chung sống, vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc , phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách và bất đồng quan điểm sống, chị M không chung thủy. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị đƣợc ly hôn.

- Về con chung: Anh H và chị M có 2 con chung là Phan Khánh Linh - sinh ngày 20/11/2002 và Phan Anh Bảo- sinh ngày 12/6/2010; Ly hôn, anh H có nguyện vọng đƣợc nuôi dƣỡng cháu Bảo, chị M nuôi dƣỡng cháu Linh, không ai phải đóng góp tiền nuôi con.

- Về tài sản, nhà ở chung: Quá trình chung sống sau khi kết hôn anh H và chị M có mua đƣợc căn hộ phòng 306 nhà I3 ngõ 91/2 phố Lƣơng Định Của, phƣờng Phƣơng Mai, quận Đống Đa- Hà Nội giấy tờ mua bán chỉ có giấy viết tay, anh H có nguyện vọng tự thỏa thuận giải quyết với chị M, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung vợ chồng.

- Về nợ: Quá trình chung sống anh H và chị M không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Ly hôn, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo lời khai tại cấp sơ thẩm chị Hoàng Thị Như M trình bày:

Chị M xác nhận thời gian và điều kiện kết hôn nhƣ anh H trình bày là đúng. Chị M xác nhận quan hệ vợ chồng đến nay không hạnh phúc, nguyên nhân do anh H ít quan tâm đến gia đình, chị M không thừa nhận việc chị không chung thủy với anh H, anh H xin ly hôn chị M đồng ý thuận tình ly hôn .

Về con chung: Chị M xác nhận vợ chồng có 2 con chung; Ly hôn chị M có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả 2 con chung, nếu anh H không đồng ý, chị M đề nghị đƣợc nuôi dƣỡng cháu Bảo vì cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và cũng phù hợp với nguyện vọng của cả 2 cháu , việc đóng góp tiền nuôi con chị M đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Về tài sản, nhà ở chung: Chị M xác nhận vợ chồng có mua căn hộ phòng 306 nhà I3 ngõ 91/2 phố Lƣơng Định Của, phƣờng Phƣơng Mai, quận Đống Đa- Hà Nội giấy tờ mua bán chỉ có giấy viết tay, ngoài ra theo chị M trình bày vợ chồng chị và anh H còn có 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA- BKS- 30A- 33984- đứng tên Công ty của anh trai anh H, tuy nhiên chị M đồng ý để hai bên tự thỏa thuận giải quyết về căn hộ phòng 306 nhà I3 ngõ 91/2 phố Lƣơng Định Của, phƣờng Phƣơng Mai, quận Đống Đa- Hà Nội; còn chiếc xe ô tô chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ: Quá trình chung sống chị M và anh H không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ. Ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93 /2018/ HNGĐ – ST, ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa đã quyết định như sau :

Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phan Anh H và chị Hoàng Thị Nhƣ M

Về con chung: Xác định anh H, chị M có 02 con chung là Phan Khánh Linh - Sinh 20/11/2002 và Phan Anh Bảo- Sinh 12/6/2010 giao chị M nuôi dƣỡng cháu Phan Khánh Linh và anh H nuôi dƣỡng cháu Phan Khánh Bảo, không ai phải đóng góp tiền nuôi con cho ai kể từ tháng 12/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoăc có sự thay đổi khác, cả anh H và chị M đều có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản nhà ở chung: Anh H và chị M tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Nếu không thỏa thuận đƣợc sẽ đƣợc giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Chị M, anh H không có nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết .

Tại phiên tòa phúc thẩm :

Anh H trình bày : Từ tháng 8/2018 đến nay, anh H đi ở nơi khác , nhƣng anh H vẫn trông nom chăm sóc các con , anh H có đầy đủ điều kiện nuôi con vì vậy anh H đề nghị Toà án giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Chị M trình bày : Chị M kháng cáo xin nuôi cháu Bảo, anh H nuôi cháu Linh. Toàn bộ việc nuôi con, đƣa đón các con đi học kèm cặp cháu Bảo học hàng ngày , đi học ngoại khoá , học Tiếng Anh đều do một mình chị M đảm nhiệm. Từ khi Toà sơ thẩm xét xử đến nay toàn bộ chi phí nuôi dƣỡng và chi phí học tập của hai cháu đều do chị M đảm nhiệm. Cháu Bảo còn nhỏ chƣa tự chăm sóc đƣợc bản thân, cháu Bảo có nguyện vọng ở với mẹ, nên chị M tha thiết xin đƣợc nuôi cháu Bảo và anh H nuôi cháu Linh, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đơn kháng cáo của chị M trong thời hạn Luật định. Xét thấy nguyện vọng xin nuôi con của anh chị là chính đáng nhƣng khi giao con cho ai nuôi phải xem xét điều kiện nuôi dƣỡng nhằm đảm bảo sự phát triền của các cháu. Xét thấy cháu Bảo còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của ngƣời mẹ, cháu đang ở với chị M ổn định và có nguyện vọng ở với mẹ , do vậy căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị M , sửa bản án sơ thẩm giao cháu Linh cho anh H , giao cháu Bảo cho chị M nuôi dƣỡng , hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Đơn kháng cáo của chị Hoàng thị Nhƣ M trong thời hạn Luật định. Tại phiên tòa phúc thẩm chị M kháng cáo về việc nuôi con, nên Hội đồng xét xử xem xét về phần nuôi con chung. Những phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Anh H , chị M có 02 con chung là Phan Khánh Linh sinh ngày 20/11/2002, Phan Gia Bảo sinh ngày 12/6/2010. Cháu Linh có nguyện vọng ở với bố , anh H , chị M không phản đối , xét thấy cháu Linh đã lớn tự mình chăm sóc cho bản thân, thấy rằng nguyện vọng của cháu Linh là tự nguyện và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh sống thực tế, nên chấp nhận.

Anh H, chị M đều có nguyện vọng nuôi cháu Bảo , xét nguyện vọng xin nuôi con của anh H, chị M là chính đáng, nhƣng khi giao con cho ai nuôi phải căn cứ vào điều kiện nuôi dƣỡng nhằm đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung.

Căn cứ vào các tài liệu do chị M xuất trình tại cấp phúc thẩm thể hiện năm học 2018-2019 chị M là ngƣời trực tiếp nộp học phí cho cháu Bảo , tổ dân phố số 35 phƣờng Phƣơng Mai xác nhận : ― …chị Hoàng thị Như M hàng ngày chăm sóc, nuôi dưỡng , đưa đón con cháu Phan Anh Bảo. Cháu Bảo ngoan ngoãn sống lễ phép với mọi người‖ . Thấy rằng cháu Bảo là con trai, mới hơn 8 tuổi chƣa tự chăm sóc bản thân , rất cần sự chăm sóc của ngƣời mẹ . Hiện cháu đang học lớp 3 Trƣờng tiểu học Bà Triệu nên rất cần sự quan tâm kèm cặp về việc học tập của ngƣời mẹ , hơn nữa cháu Bảo vẫn đang ở với chị M , cháu khoẻ mạnh phát triển bình thƣờng , kết quả học tập học kỳ 1 đạt kết quả học tập tốt . Hàng ngày chị M là ngƣời đƣa đón con đi học, anh H đang đi thuê nhà ở chỗ khác, công việc bận rộn hơn so với chị M, lại là đàn ông, do vậy điểu kiện để chăm sóc việc ăn ở sinh hoạt học tập cho cháu Bảo có phần hạn chế hơn so với chị M . Cháu Bảo có nguyện vọng ở với mẹ do vậy để tránh xáo trộn cuộc sống và việc học tập ổn định của cháu Bảo nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị M giao cháu Bảo cho chị M trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp pháp luật , từ những phân tích trên căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị M sửa bản án sơ thẩm giao cháu Linh cho anh H , giao cháu Bảo cho chị M trực tiếp nuôi dƣỡng. Hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Từ những nhận định trên!

Căn cứ điều 56, 81,82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 1 điều 148, khoản 2 điều 308, điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 5 điều 27, Khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH của Ủy ban thƣờng vụ Quôc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí , lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Xử : Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hoàng thị Nhƣ M.

Sửa Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93 /2018/ HNGĐ – ST, ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa và quyết định như sau :

Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phan Anh H và chị Hoàng Thị Nhƣ M

Về con chung: Xác định anh H, chị M có 02 con chung là Phan Khánh Linh - sinh ngày 20/11/2002 và Phan Anh Bảo- sinh ngày 12/6/2010. Giao chị M nuôi dƣỡng cháu Phan Khánh Bảo và anh H nuôi dƣỡng cháu Phan Khánh Linh, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con.

Anh H và chị M có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản nhà ở chung: Anh H và chị M tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. Nếu không thỏa thuận đƣợc sẽ đƣợc giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Chị M, anh H không có nợ chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết .

Về án phí: Anh Phan Anh H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm đƣợc trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí nộp tại biên lai số 7570 ngày 15/08/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Đống Đa. Chị Hoàng thị Nhƣ M không phải chịu án phí phúc thẩm , trả lại chị M 300.000đ tạm ứng án phí nộp tại biên lai số 8111 ngày 24/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Đống Đa.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 4/3/2018.

Cỡ chữ