- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trung N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2018/HSST Ngày: 07-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Trung N, sinh năm 1982 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn N (đã chết) và bà: Lê Thị Hồng V, sinh năm 1949; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: ngày 01-11-2017 Công an phường Thống Nhất, thành phố N xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc” (chưa được xóa tiền sự); nhân thân: ngày 29-7-2013 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, ngày 07-6-2017 Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Nam Định xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (đã được xóa tiền sự); bị bắt, tạm giữ ngày 13-12-2017, chuyển tạm giam ngày 19-12-2017; có mặt.
Người làm chứng: Ông N, anh T (Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13-12-2017, tại khu vực trước cửa số nhà B đường T, xã M, thành phố N, tổ công tác công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định kiểm tra hành chính đối với Trần Trung N đi xe máy biển kiểm soát 18Z9- 8317. Quá trình kiểm tra, N nhả từ trong miệng xuống đất 01 gói giấy bạc màu vàng, kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, N khai là 01 gói Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật, đồng thời thu giữ của N chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z9- 8317; đưa N cùng người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 1007/GĐKTHS ngày 15-12-2017của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong trưng cầu giám định là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, có trọng lượng (khối lượng) là 0,166 (không phẩy một sáu sáu) gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Trung N khai: Khoảng 12 giờ ngày 13-12-2017, N đi xe máy biển kiểm soát 18Z9- 8317 một mình từ nhà đến khu vực đường P, phường T, thành phố N mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng. N cho gói ma túy vào miệng ngậm và lên xe máy đi đến trước cửa số nhà số nhà B đường T, xã M, thành phố N thì bị Công an phát hiện, bắt giữ và thu giữ, niêm phong vật chứng.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTPNĐ ngày 09-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Trần Trung N khai: Ngày 13-12-2017, bị cáo mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng rồi cho vào miệng ngậm và đi xe máy của mẹ bị cáo đến trước cửa số nhà B đường T, xã M, thành phố N thì bị Công an bắt giữ, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13-12-2017, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,166 gam với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
Tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì các quy định có lợi cho bị cáo được thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa được xóa tiền sự và 02 lần bị xử lý hành chính đã được xóa tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy. Chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z9- 8317 không phải là vật chứng của vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà L (mẹ bị cáo N) là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Trung N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Trung N 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13-12-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 05-02-2018).
3. Án phí: Bị cáo Trần Trung N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Trung N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |