vanban.org

Bản án 38/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 10/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo NVS 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo NVS cho UBND xã ĐL, huyện Yên Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2018/HS-ST
Ngày: 10-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương – Thư ký Tòa án, TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào- Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: NVS - Sinh ngày: 26/3/1987, tại xã ĐL, huyện Y, Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn 3, xã ĐL, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: NVS (đã chết), Mẹ: ĐTP, sinh năm 1964; Gia đình có 3 chị em, NVS là con đầu; bị cáo có vợ LTT, sinh năm 1992, hiện đang sinh sống tại thôn 3, xã ĐL, huyện Y; có 02 con, lớn nhất 04 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2018 đến ngày 05/7/2018 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người làm chứng: NTH, sinh năm 1983, LVH, sinh năm 1989, NVD, sinh năm 1981.

Đều trú tại: xã ĐL, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Nguyễn Văn Đại, sinh năm 1983, Trịnh Duy Mạo, sinh năm 1990, Nguyễn Văn Tạ, sinh năm 1960.

Đều trú tại: xã ĐL, huyện Y, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt tất cả các người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định ghi lô, đề cho khách để kiếm lời nên trước đó, NVS có ngồi uống nước và nói chuyện chơi lô đề cùng Hiếu, Mạo, Đại và Hưng, đồng thời nói nếu ai muốn chơi lô đề thì đến nhà NVS sẽ ghi cho, nên ngày 02/7/2018 NVS bắt đầu ghi lô, đề ngay tại nhà mình. NVS ghi các số lô, đề và số tiền tương ứng cho khách chơi vào một tờ giấy A4 gọi là bảng đề, đồng thời ghi số lô, đề của người chơi ra một tờ giấy nhỏ gọi là các đề đưa lại cho khách làm căn cứ tính thắng thua.

NVS đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cụ thể: Đối với số lô, NVS nhận tính cho khách là 22.000đ/điểm, đối với số đề NVS nhận tính cho khách 75% và trừ cho người chơi 25% hoa hồng, ví dụ khách đánh một số đề 100.000đ thì chỉ phải thanh toán cho NVS 75.000đ. Căn cứ vào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày để tính tỷ lệ thắng thua giữa NVS và người chơi. Số đề là 02 số cuối của giải đặc biệt, nếu trúng người chơi được nhận 70 lần số tiền đã đánh, số lô gồm 27 số là hai số cuối của tất cả các giải từ giải đặc biệt đến giải bảy, cứ một điểm lô nếu trúng người chơi sẽ nhận được 80.000đ. Đối với lô xiên 2 người chơi đánh 10.000đ nếu trúng sẽ được số tiền gấp 10 lần số tiền đã đặt cược. Đối với lô xiên 3 người chơi đánh 10.000đ nếu trúng sẽ được số tiền gấp 40 lần số tiền đã đặt cược. Đối với đề 3 càng nếu người chơi đánh 1.000đ sẽ được số tiền gấp 400 lần số tiền đã đặt cược. Nếu không trúng người chơi sẽ mất số tiền đã đánh. Mục đích NVS nhận ghi lô, đề của khách là để giữ lại (ôm) nhằm kiếm tiền tiêu xài cá nhân mà không chuyển cho ai.

Trong ngày 02/7/2018 NVS nhận đánh số lô, đề cho khách tương ứng với số tiền là 32.080.000đ (sau khi đã trừ hoa hồng cho khách), trong đó có 785 điểm lô tương ứng 17.270.000đ, lô xiên tương ứng 370.000đ, ghi các số đề tương ứng 14.440.000đ.

Khi bị bắt vào khoảng 18 giờ ngày 02/7/2018 chưa có kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc. Cơ quan công an đã thu giữ của NVS 02 bảng lô, đề có chữ ký của NVS. Đối với chiếc bút mực màu đen mà NVS sử dụng để ghi số lô, số đề cho khách, khi bị phát hiện NVS đã vứt ở ngoài cổng nhà, cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Trong vụ án này còn có: Nguyễn Văn Đại đánh 05 điểm lô tương đương 220.000đ, Nguyễn Trọng Hưng đánh 55 điểm lô tương ứng 1.210.000đ, tham gia chơi lô, đề cùng NVS, nhưng số tiền đánh bạc của những người này không đủ định lượng theo quy định của pháp luật để truy tố về tội đánh bạc, nên cơ quan điều tra công an huyện Yên Định đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Đại và Hưng nên không xem xét.

Đối với người tên Hiếu (vợ là Liên) ở xã Định Liên đánh lô, đề với NVS, với số tiền 6.900.000đ (theo lời khai của NVS). Cơ quan công an huyện Yên Định đã xác minh có 02 người tên Hiếu, vợ là Liên như khai báo gồm Lê Văn Hiếu, sinh năm 1989 và Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1981. Qua nhận dạng, đối chất với bị cáo thì không phải là người đã tham gia đánh bạc cùng NVS. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ là ai, ở đâu sẽ xử lý sau.

Đối với Trịnh Duy Mạo là người tham gia đánh bạc với bị cáo ngày 02/7/2018, qua xác minh Mạo hiện nay không có mặt tại địa phương, người thân và chính quyền địa phương không biết mạo ở đâu. Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm việc, khi nào đủ tài liệu, chứng cứ sẽ xử lý sau, nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Ngoài ra, NVS còn nhận ghi của khách qua đường tương ứng với số tiền 12.990.000đ, cơ quan công an đã tiến hành xác minh nhưng không rõ được là ai và ở đâu nên không có cơ sở xử lý.

Tại cơ quan điều tra NVS đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của NVS phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tang vật, tài liệu đã thu được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 33 ngày 14/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo NVS về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 65, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 46 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để xử phạt bị cáo NVS từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Truy thu số tiền đánh bạc của bị cáo là 32.080.000đ nộp ngân sách Nhà nước.

Đề nghị phạt bổ sung đối với NVS từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo NVS khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo NVS thừa nhận: Vào chiều ngày 02/7/2018 bị cáo đã nhận ghi lô, đề của người chơi, tổng hợp được 02 bảng lô, đề với tổng số tiền 32.080.000đ, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo NVS phạm tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nhưng xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, và có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, do vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành người công dân tốt.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có bố là người được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về xử lý số tiền đánh bạc: Khi bị bắt chưa có kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc. Số tiền đánh bạc của bị cáo tổng hợp từ 02 bảng số lô, số đề là 32.080.000đ, bị cáo chưa nộp, cần truy thu nộp Ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo NVS 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo NVS cho UBND xã ĐL, huyện Yên Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nộp Ngân sách nhà nước.

Truy thu số tiền đánh bạc của bị cáo là 32.080.000đ (Ba mươi hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) nộp Ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo NVS phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ