- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh H xin ly hôn chị P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê H ly hôn chị Nguyễn Thị P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2018/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 7 năm 2018 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Trung; Ông Viêm Văn Doãn;
-Thư ký phiên toà: Bà Phạm Vũ Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXX-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê H, sinh năm 1986. (Có mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990. (Có mặt).
Các đương sự đều có HKTT tại: Số nhà 202 Nguyễn T, phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là anh Lê H trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990, quê quán tại xã L, huyện D, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 11/11/2013. Trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung cùng bố mẹ đẻ anh ở số nhà 202 Nguyễn T, phường T, thành phố Bắc Ninh. Vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị P có những lời lẽ không tôn trọng anh và bố mẹ anh. Từ tháng 01/2018 đến nay chị P mang theo con chuyển ra ngoài và không ở cùng anh, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay thấy vợ chồng không còn tình cảm, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị P.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Lê Kim Việt M, sinh ngày 17/10/2013. Cháu đang ở với vợ chồng anh chị nhưng từ khi chị P bỏ đi, chị mang theo cháu M. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được nuôi cháu M và không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Phía bị đơn là chị Nguyễn Thị P trình bày: Chị kết hôn với anh Lê H, sinh năm 1986, có HKTT tại số nhà 202 Nguyễn T, phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 11/11/2013 như anh H trình bày là đúng. Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau ngày cưới vợ chồng sống cùng bố mẹ anh H. Vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh H không có tiếng nói chung, anh H không quan tâm hỏi han vợ con, cũng không chia sẻ với chị trong cuộc sống. Khi có con anh H cũng không để tâm chăm sóc và nuôi dạy con cái cùng chị. Tại phiên tòa hôm nay, nếu anh H nhất định ly hôn thì chị cũng đồng ý ly hôn anh H.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Lê Kim Việt M, sinh ngày 17/10/2013. Cháu M hiện đang ở cùng chị. Từ khi chị cùng con chuyển ra ngoài ở, anh H và gia đình chồng không quan tâm, hỏi han gì đến mẹ con chị nhưng đến thứ sáu hàng tuần anh H đến đón cháu về ở cùng với ông bà nội đến tối chủ nhật anh H lại đưa cháu M về ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Lê Kim Việt M vì từ nhỏ cháu M đều ở với chị và đều do chị một mình dạy dỗ. Chị xác định có đủ điều kiện để chăm sóc và dạy dỗ cháu trưởng thành. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho anh Lê H được ly hôn chị Nguyễn Thị P.
- Về con chung: Giao cho anh Lê H nuôi cháu Lê Kim Việt M, sinh ngày 17/10/2013. Cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê H và chị Nguyễn Thị P kết hôn ngày 11/11/2013. Trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy anh H và chị P đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh H và chị P thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung.Từ tháng 01/2018, chị P mang con bỏ về nhà chị P, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa anh H giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn chị P, chị P không muốn ly hôn nhưng chị cho rằng nếu anh H kiên quyết ly hôn thì chị đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị P không muốn ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do vậy cần xử cho anh H được ly hôn chị P
Về con chung: Vợ chồng anh H, chị P có 01 con chung là cháu Lê Kim Việt M, sinh ngày 17/10/2013. Hiện nay cháu đang ở cùng chị P. Tại phiên tòa anh H xin được nuôi cháu M và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung, chị P cũng có nguyện vọng được nuôi cháu M và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Hội đồng xét xử thấy cháu M còn nhỏ, rất cần sự quan tâm của cả bố và mẹ. Cả anh H và chị P đều tha thiết xin được nuôi con. Xét thấy, chị P hiện công tác tại hai trường Mầm non. Một trường với chức danh Hiệu trưởng và một trường là quản lý trực tiếp, công việc rất bận rộn còn anh H là viên chức Nhà nước, có thu nhập, chỗ ở ổn định và hộ khẩu tại phường T, thuận lợi cho việc học hành và đảm bảo cuộc sống cũng như sự ổn định phát triển toàn diện của cháu M. Do vậy cần giao cháu M cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu do vậy không đặt ra xem xét.
Về tài sản, công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 147, 235, 264, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê H ly hôn chị Nguyễn Thị P.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Kim Việt M, sinh ngày 17/10/2013 cho anh Lê H trực tiếp nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu.
Chị P được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản, công nợ: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự: Anh Lê H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận anh Lê H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2017/0000787 ngày 12/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh). Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; -VKSNDTP Bắc Ninh; - Chi cục THADS TP Bắc Ninh; - UBND phường T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Hƣơng |