- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến T "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HƯNG YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2017/HSST Ngày 06/7/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Thùy Đông, Trưởng ban đại diện Hội người cao tuổi Thành phố Hưng Yên.
2. Ông Phạm Minh Đức, Hiệu phó Trường tiểu học xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Ngọc Nam, cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2017/HSST - QĐ ngày 23 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
* Nguyễn Tiến T, sinh năm 1993; HKTT: thôn A, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; TĐVH: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngọc Kh ( đã chết) và bà Đào Thị G, sinh năm 1963; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là út; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo tại ngoại “có mặt”.
* Người bị hại: Anh Phạm Văn Kh, sinh năm 1996; Trú tại: số 45 đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. “ vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 08/01/2017, Nguyễn Tiến T cùng anh Phạm Văn Kh, trú tại số 45 đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, anh Lê Văn N và anh Lê Đức T đều trú tại thôn K, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên cùng nhau ngồi chơi game tại quán game K trên đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Tại quán, T có mượn chiếc điện nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16g màu Gold của anh Kh để sử dụng, anh Kh đồng ý đưa điện thoại cho T và bảo đến 17 giờ cùng ngày phải trả lại anh Kh. T cầm điện thoại Kh cho mượn sử dụng vào mạng xã hội, sau đó đã nảy sinh ý định cầm cố chiếc điện thoại trên để lấy tiền tiêu sài. T đi ra ngoài cửa quán thì gặp Trần Đình V ở thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Hưng Yên đi xe mô tô đến. T rủ anh V đi uống nước, anh V đồng ý và chở T đi ra đường Ng. Trên đường đi, T bảo anh V chở đến quán điện thoại Apple House ở số 596 đường Ng, phường A, thành phố H do anh Vũ Quang D trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên làm chủ, anh V đứng ngoài cửa quán còn T vào cửa hàng nói với anh D “em muốn cắm chiếc điện thoại này”, anh D nói “mình không nhận cắm, nếu bạn bán thì mình lấy” rồi bảo T mở máy để kiểm tra. Sau khi kiểm tra xong, anh D hỏi “máy của bạn à?”, T trả lời “máy của em!”, thấy T mở được mật khẩu nên anh D tin và bảo “máy này kịch giá được 8.000.000 đồng, nếu bạn bán thì mình để cho vài ngày, có tiền thì ra lấy, nếu bạn không lấy thì mình thanh lý”, T đồng ý bán chiếc điện thoại trên lấy 8.000.000 đồng. Sau đó lên xe anh V chở đi đến ngã tư đường Ng và đường N thì anh V đi về nhà còn T xuống xe vào quán điện thoại mua thẻ game hết 8.000.000 đồng rồi đi bộ đến quán Thăng Long Game nạp hết số thẻ trên vào chơi game. Đến 17 giờ cùng ngày, không thấy T trả điện thoại, anh Kh mượn điện thoại của anh Th và anh Ng gọi điện cho T thì T tắt máy. Do phải trực nên anh Kh về cơ quan đến 21 giờ cùng ngày thì trở lại quán game K để tìm T nhưng không thấy. Anh Kh đã rủ anh Th đi tìm thì thấy T đang chơi game ở quán Thăng Long game, khi anh Kh đòi chiếc điện thoại thì T bảo với anh Kh là mình đã mang cắm điện thoại rồi trả chiếc sim điện thoại cho anh Kh và bỏ đi.
Ngày 23/01/2017, anh Kh có đơn trình báo công an phường A, thành phố H. Cùng ngày anh Vũ Quang D đã tự nguyện giao nộp cho công an phường A, thành phố H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S plus 16g có Imei 353330072855491 màu gold.
Bản kết luận định giá tài sản cùng biên bản định giá tài sản số 11/BB - HĐĐG ngày 12/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hưng Yên kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16g màu Gold đã qua sử dụng trị giá 7.693.000 đồng.
Ngày 21/3/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hưng Yên trả lại cho anh Phạm Văn Kh 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16g màu Gold. Quá trình điều tra T đã trả lại cho anh Vũ Quang D số tiền 8.000.000 đồng. Các anh Kh và D nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 38/QĐ-VKS-HS ngày 29/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Tiến T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm người có ích cho gia đình và xã hội.
Đại diện VKSND thành phố Hưng Yên tỏ quan điểm giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 140; điểm b, g, h, p khoản 1, 2 điều 46; Điều 60 BLHS; Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự; Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo và lời khai của người bị hại (BL 22, 23 - 30); Bản kết luận định giá tài sản ngày 15/02/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hưng Yên (BL 17), Lời khai của những người làm chứng; cùng các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, thể hiện: Khoảng 16 giờ ngày 08/01/2017, tại quán game K trên đường T, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên Nguyễn Tiến T đã hỏi mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone6S Plus 16g màu gold của anh Phạm Văn Kh để sử dụng. Sau khi mượn được điện thoại, T đã mang bán cho anh Vũ Quang D là chủ quán điện thoại Apple House ở số 596 đường Ng, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên được 8.000.000đ rồi đem tiêu sài cá nhân hết. Tại Bản kết luận giám định đã kết luận chiếc điện thoại nêu trên có giá trị là 7.693.000 đồng. Hành vi mượn chiếc điện thoại của người khác để sử dụng, sau đó nảy sinh ý định bán để lấy tiền tiêu sài và thực tế bị cáo đã bán chiếc điện thoại lấy tiền mua thẻ game chơi hết nên không trả lại được cho chủ sở hữu đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và thuộc trường hợp “Mượn tài sản của người khác và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T theo tội danh nêu trên, theo điểm b khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuổi đời còn trẻ nhưng mải chơi, đua đòi không chịu lao động chân chính, lợi dụng lòng tin của bạn bè mượn tài sản của họ sau đó nảy sinh ý định bán đi lấy tiền tiêu sài để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đều thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện trả lại cho anh D số tiền 8.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p, g, h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có đơn trình bày điều kiện gia đình bố đã mất, mẹ thường xuyên đau ốm, hoàn cảnh gia đình khó khăn; bản thân chưa có tiền án, tiền sự, để xin được cải tạo tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Xét thấy bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và bị cáo tại phiên tòa để áp dụng hình phạt tù nhưng cho được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, chính quyền địa phương cùng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo T thành người tốt, sống hữu ích cho gia đình, xã hội và đồng thời vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về TNDS: đã giải quyết xong nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 140; điểm b, p, g, h khoản 1, 2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tiến T 09 ( chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/7/2017.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên giám sát trong thời gian giáo dục, thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bản án sơ thẩm, xét xử công khai có mặt bị cáo; vắng mặt người bị hại. Đã báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự khác trong vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, hoặc kể từ ngày nhận bản án, hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận - Bị cáo; - Các đương sự; - VKSND TP.Hưng Yên; - Phòng NV - KT, TAND tỉnh HY; - Công an TP.Hưng Yên; - Chi cục THADS TP.Hưng Yên; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thúy Hà |