vanban.org

Bản án 38/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

BÞ c¸o Dƣơng Văn M ph¹m téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 14… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn M - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? BÞ c¸o Dƣơng Văn M ph¹m téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN VĂN LÃNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2017/HSST
Ngày: 27 - 6 - 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Đức Lộc

Nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: Phòng tƣ pháp huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

2. Ông Hoàng Đình Tuyến

Nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V¨n L·ng, tØnh L¹ng S¬n tham gia phiªn toµ: Bà Chu Thanh Huyền - KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 27 th¸ng 6 n¨m 2017, t¹i Nhà Văn hóa xã T, huyÖn V, tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn mở phiên tòa lƣu động xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè 36/2017/ HSST, ngµy 29 th¸ng 5 n¨m 2017, ®èi víi bÞ c¸o:

Dƣơng Văn M, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06 th¸ng 4 n¨m 1987 t¹i huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và chỗ ở: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr×nh ®é học vấn: 9/12; con ông Dƣơng Văn G, sinh năm 1958 và con bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị Thu H, con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/02/2017 đến nay. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Dƣơng Văn M bÞ ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V¨n L·ng, tỉnh Lạng Sơn truy tố vÒ hµnh vi ph¹m téi nhƣ sau:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 26/02/2017, Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Phòng PC54 Công an tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Hải quan cửa khẩu T đang làm nhiệm vụ tại xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Dƣơng Văn M có hành vi cất giấu 17 (Mƣời bẩy) túi ni lon màu trắng nghi là chất ma túy, trong đó có 04 (Bốn) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 06 (Sáu) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 03 (Ba) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa các tinh thể màu trắng; 01 (Một) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng; 01 (Một) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa 03 viên nén màu trắng trên mặt có chữ “K”; 01 (Một) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén màu trắng; 01 (Một) túi ni lon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, 01 viên nén màu xanh lá, 01 viên nén màu xanh da trời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và thu các đồ vật của bị cáo nghi có liên qua đến việc phạm tội là 01 (Một) túi xách màu đen, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng, có số imei: 867764020867082, bên trong lắp 01 sim viettel, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng, có số imei: 867764020375856 bên trong lắp 01 sim viettel, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA model: 1110 đã qua sử dụng và 4.000.000đ (Bốn triệu) đồng.

Tại Bản Kết luận giám định số 131/KL- PC54 ngày 01/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

1/ Phong bì có chữ “QT DƢƠNG VĂN M 1” chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng trọng lƣợng 3,020 gam (đã trừ bì).

2/ Phong bì có chữ “QT DƢƠNG VĂN M 2” chất bột tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy ketamine, có tổng trọng lƣợng 3,780 gam (đã trừ bì).

3/ Phong bì có chữ “QT DƢƠNG VĂN M 3” chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng trọng lƣợng 1,915 gam (đã trừ bì).

4/ Phong bì có chữ “QT DƢƠNG VĂN M 4”:

- 03 (Ba) viên nén màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng trọng lƣợng 0,312 gam (đã trừ bì).

- 03 (Ba) viên nén màu trắng trên mặt có chữ “K”; 02 (Hai) viên nén màu trắng; 01 (Một) viên nén màu hồng; 01 (Một) viên nén màu xanh lá cây; 01 (Một) viên nén màu xanh da trời gửi giám định, tất cả đều là chất ma túy MDMA, có tổng trọng lƣợng 2,312 gam (đã trừ bì).

Tại cơ quan điều tra, Dƣơng Văn M khai bản thân nghiện ma túy từ tháng 01 năm 2017. Khoảng 15 giờ ngày 23/02/2017, Dƣơng Văn M một mình đi mô tô từ nhà đến thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Đến thị trấn N, Dƣơng Văn M đã gặp và hỏi mua ma túy với một ngƣời đàn ông khoảng 35 đến 40 tuổi (Dƣơng Văn M không rõ họ tên, địa chỉ của ngƣời đàn ông này). Dƣơng Văn M đƣa cho ngƣời đàn ông này 3.820.000đồng, ngƣời đàn ông này cầm lấy tiền và chỉ cho Dƣơng Văn M chỗ để ma túy ở dƣới viên gạch cách chỗ Dƣơng Văn M đứng khoảng 3m. Dƣơng Văn M lấy túi ma túy, cất vào túi quần phía trƣớc bên phải đang mặc sau đó đi về nhà. Khoảng 23 giờ ngày 23/02/2017, Dƣơng Văn M lấy một ít ma túy ra sử dụng. Đến khoảng 14 giờ ngày 25/02/2017, Dƣơng Văn M mang theo số tiền khoảng 5.000.000đồng và số ma túy còn lại đã mua ngày 23/02/2017 cất vào trong túi sách màu đen và mang theo từ nhà lên Bến xe N, Hà Nội mục đích để sử dụng cho bản thân. Sáng ngày 26/02/2017, Dƣơng Văn M đi xe khách từ Bến xe N lên thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để tham quan du lịch. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Dƣơng Văn M đi đến Cửa khẩu T, Dƣơng Văn M xuống xe đến ngồi quán nƣớc của anh Nguyễn Văn H để uống nƣớc, khoảng 10 phút sau thì bị lực lƣợng chức năng đến kiểm tra và lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Với nội dung vụ việc nhƣ trên, t¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 38/ CT-VKS, ngµy 29/5/2017, ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V¨n L·ng, tØnh L¹ng S¬n ®· truy tè bÞ c¸o Dƣơng Văn M vÒ téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 §iÒu 194 Bé luËt h×nh sù.

Tại phiên tòa, bị cáo Dƣơng Văn M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ Cáo trạng truy tố đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận với nội dung: Bị cáo Dƣơng Văn M khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi và số lƣợng ma túy bị cáo tàng trữ đủ căn cứ truy tố hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 §iÒu 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Dƣơng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Tang vật là ma túy và vật đựng ma túy (Túi xách màu đen), đề nghị tịch thu tiêu hủy; đề nghị trả lại 03 điện thoại di động và 4.000.000đồng cho bị cáo.

Bị cáo Dƣơng Văn M nhất trí với luận tội của Đại diện viện kiểm sát và không có lời bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất hối hận về hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện, bị cáo hứa sửa chữa lối lầm và mong đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ®ƣợc thÈm tra t¹i phiªn tßa; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn tßa trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o vµ nh÷ng ngƣêi tham gia tè tông kh¸c.

XÉT THẤY

Ngày 26/02/2017, tại địa điểm xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn bị cáo Dƣơng Văn M đã bị phát hiện có hành vi tàng trữ 17 (Mƣời bẩy) túi ni lon màu trắng, qua kết quả giám định tất cả đều là chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Theo quy định tại điểm a, mục 2.5 thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT – BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tƣ pháp hƣớng dẫn áp dụng một số quy định tại chƣơng XVIII “các tội về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, do các chất ma túy bị cáo Dƣơng Văn M tàng trữ có 03 loại, gồm Methamphetamine, Ketamine, MDMA (Ecstasy) đều có trọng lƣợng dƣới mức tối thiểu quy định tại khoản 2 Điều 194, do vậy tổng trọng lƣợng các chất ma túy bị cáo Dƣơng Văn M tàng trữ, cụ thể là:

1. Chất ma túy Methamphetamine, có tổng trọng lƣợng 5,247 gam (đã trừ bì) = 26,16%

2. Chất ma túy Ketamine, có tổng trọng lƣợng 3,780 gam (đã trừ bì) = 18,9%

3. Chất ma túy MDMA (Ecstasy), có tổng trọng lƣợng 2,312 gam (đã trừ bì) = 11,56%

Tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lƣợng của các chất ma túy là: 56,652% (dƣới 100%) cho nên bị cáo Dƣơng Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai ngƣời làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác. Do đó, bị cáo Dƣơng Văn M đã phạm téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 §iÒu 194 của Bé luËt H×nh sù năm 1999.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội. Công văn số 276/TANDTC- PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho ngƣời phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Danh mục một số quy định có lợi cho ngƣời phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 2015 ban hành kèm theo Công văn thì khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy) nằm trong danh mục nội dung quy định có lợi. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo Dƣơng Văn M khi quyết định hình phạt.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo nhƣ sau:

Hµnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy cña bÞ c¸o là nguy hiểm cho xã hội bÞ ph¸p luËt nghiªm cÊm. Hành vi đó xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nƣớc về quản lý chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo làm mÊt trËt tù trÞ an x· héi, góp phần làm gia tăng tội phạm về ma túy, góp phần là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác.

Về nhân thân: Bị cáo Dƣơng Văn M đƣợc đánh giá có nhân thân tốt vì chƣa có tiền án, tiền sự. Việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tuy pháp luật không quy định là phạm tội, tuy nhiên đây là hành vi bị xã hội lên án, bởi hiện nay việc sử dụng trái phép chất ma túy làm cho ngƣời sử dụng dễ dẫn đến nghiện ma túy, lệ thuộc chất ma túy, từ đó suy giảm sức khỏe, khả năng lao động, có những hành vi không chuẩn mực theo yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Do đó, bị cáo cần phải nhận thức hành vi sai phạm của bản thân để sửa chữa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Với tổng tỷ lệ phần trăm về trọng lƣợng của các chất ma túy bị cáo tàng trữ, đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt, thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo không sở hữu tài sản có giá trị, bị cáo là đối tƣợng nghiện chất ma túy, có 01 con còn nhỏ. Nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về tang vật vụ án: Tang vật là ma túy, là vật thuộc loại nhà nƣớc cấm lƣu hành; 01 túi xách màu đen bị cáo dùng để tàng trữ chất ma túy, tịch thu tiêu hủy. 03 (Ba) chiếc điện thoại di động; 04 triệu đồng thu của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, trả lại cho bị cáo.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nƣớc.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

BÞ c¸o Dƣơng Văn M ph¹m téi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p kho¶n 1 §iÒu 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội.

Xử phạt bị c¸o Dƣơng Văn M 03 (Ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2017.

3. Về tang vật vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41, điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

a) Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

Tịch thu, tiêu hủy chất ma túy đựng trong 4 phong bì sau:

- 01 (Một) phong bì, kí hiệu bằng chữ viết tay “QT DƢƠNG VĂN M 1”

- 01 (Một) phong bì, kí hiệu bằng chữ viết tay “QT DƢƠNG VĂN M 2”

- 01 (Một) phong bì,kí hiệu bằng chữ viết tay “QT DƢƠNG VĂN M 3”

- 01 (Một) phong bì,kí hiệu bằng chữ viết tay “QT DƢƠNG VĂN M 4”

- 01 (Một) túi xách màu đen

b) Trả lại cho bị cáo Dƣơng Văn M:

- 4.000.000đ (Bốn triệu) đồng.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, có số imei: 867764020867092, bên trong có lắp 01 (một) sim Viettel

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, có số imei: 867764020375856, bên trong có lắp 01 (một) sim Viettel

- 01 (Một ) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, model: 1110, đã qua sử dụng

(Các vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2017 và giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án huyện Văn Lãng lập ngày 20/3/2017 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phÝ: Áp dông Điều 98, khoản 1 Điều 99 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

BÞ c¸o Dƣơng Văn M phải chịu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm 200.000 (Hai tr¨m ngh×n) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo cã quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong thời hạn mƣời lăm ngày, kể tõ ngµy tuyªn ¸n.

“Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ