vanban.org

Bản án 38/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 30/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) 5 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giam 09/6/2017. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy đá - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 191 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2017/HSST
Ngày 30-9-2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hoàng Nghiệp

Bà Dƣơng Thị Thúy Duy

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Kha – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Thoại Khƣơng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2017, tại Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 15/9/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:127/2017/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn Lợi (Bu), sinh ngày 14/02/2000, Nơi cư trú: khóm 4, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, An Giang; Chỗ ở: ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, An Giang; Nghề nghiệp: Không, trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Mẹ: Huỳnh Thị Thu Hương, sinh năm: 1981; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giam từ ngày 09/6/2017 đến nay.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Huỳnh Thị Thu Hƣơng, sinh năm 1982 (mẹ của bị cáo); Nơi cư trú: khóm 4, phường Châu Phú A, Tp Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chỗ ở: ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Người Bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Phƣớc Tài, sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang. (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Lê Văn Thảo, sinh năm 1977; Trú tại: Ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

Trần Đăng Khoa, sinh năm 1988; Trú tại: Ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

Trƣơng Minh Trí, sinh năm 1990; Trú tại: Ấp Thạnh Phú, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

Nguyễn Thị Loan, sinh năm 1988; Trú tại: Ấp Thạnh Hòa, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. (vắng)

- Người tham gia tố tụng khác:

Dƣơng Văn Hòa, sinh năm 1990; (vắng)

Nguyễn Văn Lá, sinh năm 1969; (vắng)

Cùng trú tại: Ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/6/2017, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện An Phú kết hợp với Công an xã Khánh An tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Huỳnh Văn Lợi đang có hành vi bán cho Lê Văn Thảo 01 bọc nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi ma túy đá), tại tiệm hớt tóc “Lưu Bị”, thuộc ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Lực lượng tiến hành lập Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang. Đồng thời, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở là nhà của Huỳnh Văn Lợi ngụ ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang lực lượng phát hiện thêm 07 bọc nylon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy đá), nên lập biên bản thu giữ.

Căn cứ kết quả giám định tại Kết luận giám định số 229/KLGT - PC54 ngày 13 tháng 6 năm 2017, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận:

Tinh thể màu trắng trong 01 (một) bọc nylon trong suốt hàn kín được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang, gửi đến giám định có Methamphetamine, là chất ma túy, trọng lượng 0, 0714 gam (không phẩy không bảy một bốn gam).

Tinh thể màu trắng trong 07 (bảy) bọc nylon trong suốt hàn kín được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang, gửi đến giám định có Methamphetamine, là chất ma túy, trọng lượng 0, 6827 gam (không phẩy sáu tám hai bảy gam).

Tại bản Cáo trạng số 33/VKS-HS ngày 14/9/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Huỳnh Văn Lợi về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, điểm đ khoản 02 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Bị cáo mua ma túy của một người đàn ông Campuchia tên Bình (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 04 lần mục đích mua về để bán lại cho những người có nhu cầu sử dụng trên địa bàn huyện An Phú. Lần thứ nhất mua 08 bọc giá 1.500.000 đồng tại cầu Long Bình, thuộc ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú; lần thứ hai mua 08 bọc giá 2.000.000 đồng địa điểm tại nhà Lợi thuộc ấp An Hòa, xã Khánh An, huyện An Phú; lần thứ ba mua 07 bọc giá 1.500.000 đồng và lần thứ tư mua 07 bọc nhưng chưa trả tiền địa điểm tại nhà Lợi. Tính đến ngày bị bắt thì Lợi bán ma túy 19 lần, thu lợi bất chính 300.000 đồng, cụ thể như sau: Bán cho Thảo 05 lần; Trí 02 lần; Khoa 03 lần; Tiến 01 lần; Hiếu 01 lần; Long 01 lần; Đạt 02 lần; Tuấn 02 lần; Hên 02 lần; Thanh 01 lần, mỗi lần bán với số tiền từ 100.000 đồng đến 400.000 đồng. (Số tiền 5.000.000 đồng bị cáo bỏ ra để mua ma túy là tiền dùng để phạm tội, số tiền thu lợi 300.000 đồng cần phải buộc bị cáo giao nộp sung quỹ Nhà nước)

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 194, điểm b,o, p khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 69, Điều 74, Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Lợi với mức án từ 04 đến 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án như sau:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 567.000 đồng

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của phòng PC 54-Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy, Nguyễn Văn Hậu. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, có trọng lượng 0,0563 gam, có Methamphetamine. 01 phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của phòng PC 54-Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy, Nguyễn Văn Hậu. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, có trọng lượng 0,05867 gam

Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số imei 353689087136456, đã qua sử dụng. 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng, số imei: 3599994056380307 đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01sim số 01677797226 và 01 sim số 01653316738.

Buộc bị cáo giao nộp số tiền dùng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính tổng cộng: 5.600.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Qua phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát thì về tội danh, hình phạt và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thì người bào chữa thống nhất về đề nghị của viện kiểm sát, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì bị cáo là người chưa thành niên, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không được đi học, mẹ của bị cáo phải lo làm kiếm sống hàng ngày không có điều kiện quan tâm đến bị cáo, bị cáo không có cha, hiểu biết pháp luật kém nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát ở mức thấp nhất.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định.

Người liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 191, 192 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Huỳnh Văn Lợi đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy (Methamphetamine) cho Lê Văn Thảo, Trần Đăng Khoa, Trương Minh Trí, Trương Hữu Thanh, Trần Minh Tiến (Chọc), Tuấn, Long, Hên, Hiếu và Đạt để sử dụng.

Căn cứ pháp luật, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn Lợi đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Huỳnh Văn Lợi về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất vụ án: Bị cáo đứng trước phiên tòa hôm nay là người chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên bị cáo có đầy đủ sức khỏe để lao động nuôi bản thân và gia đình, tự tạo ra của cải phục vụ cho sinh hoạt cá nhân, nhận thức được sử dụng ma túy là con đường dẫn đến cái chết, bị cáo mua sử dụng và đem bán trái phép cho nhiều người và thực hiện nhiều lần, đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma tuý, gây mất an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện biên giới. Bị cáo có hành vi mua bán chất ma túy nhiều lần nên thuộc trường hợp tình tiết định khung tăng nặng theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Nhà nước nghiêm cấm bất kỳ ai có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, mọi người, mọi gia đình hãy nói không với ma túy. Ma túy đã làm cho bao gia đình tan nát, người sử dụng ma túy không còn sức khỏe để lao động, không đủ nhận thức và khi lên cơn nghiện có thể làm bất cứ việc gì để thỏa mãn cơn nghiện. Nhà trường và các bậc cha, mẹ, phải biết giáo dục và định hướng để con em mình biết mà tránh xa con đường ma túy, những ai có ý định mua bán trái phép chất ma túy thì kiên quyết từ bỏ, ai còn liên quan đến ma túy thì cũng sẽ bị pháp luật xử lý.

Bị cáo là người biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bởi Methamphetamine (hàng đá) thực chất đây là thuốc gây nghiện thuộc loại nguy hiểm, khi thâm nhập vào cơ thể sẽ gây kích thích mạnh, làm cho người nghiện bị giảm sút về tinh thần và khi lên cơn nghiện dễ có hành động phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phá hoại việc tập trung quản lý của Nhà nước đối với công tác phòng, chống ma túy. Xét thấy, cần có mức án nghiêm mới có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo nhằm phát huy tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, chưa nhận thức đầy đủ tác hại của ma túy, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên bản thân bị cáo hơn ai hết biết được ma túy sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe, gia đình và xã hội, Bị cáo biết mẹ mình lao động cực khổ để nuôi mình, bị cáo lại không lo phụ giúp cho mẹ, không chịu đi làm việc để kiếm tiền mà chỉ lo ăn chơi, rồi sử dụng ma túy và chuyển sang bán ma túy. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, do đó hội đồng xét xử sẽ có mức án thật nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích. Tuy nhiên cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là tại phiên tòa hôm nay bị cáo thật thà khai báo và biết ăn năn hối cải, bị cáo học lực thấp, bị cáo tự thú các lần phạm tội trước. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo và áp dụng quy định đối với người chưa thành niên.

Từ những phân tích về nhân nhân như trên, xem xét đề nghị của Viện kiểm sát, người bào chữa, nhận thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp đối với bị cáo là người chưa thành niên, lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở, tuy nhiên Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định mức hình phạt phù hợp nhất đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lợi giao nộp số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy 5.600.000 đồng sung quỹ nhà nước (số tiền này bị cáo đã tác động gia đình giao nộp xong, theo biên lai thu số 007099 ngày 29/9/2017)

Về vật chứng của vụ án: Thống nhất với đề nghị xử lý vật chứng của Viện Kiểm sát và sẽ Quyết định trong phần Quyết định của Bản án

Lẽ ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét bị cáo hiện đang có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm b, o, p khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 69; khoản 1, Điều 74; Điều 41; Điều 42 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009.

Căn cứ Điều 76; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) 5 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giam 09/6/2017.

Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo giao nộp tiền thu lợi bất chính là 5.600.000 đồng để sung quỹ Nhà nước (số tiền này bị cáo đã tác động gia đình giao nộp xong, theo biên lai thu số 007099 ngày 29/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của phòng PC 54-Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy, Nguyễn Văn Hậu. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, có trọng lượng 0,0563 gam, có Methamphetamine. 01 phong bì được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của phòng PC 54-Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Kiều Thúy, Nguyễn Văn Hậu. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, có trọng lượng 0,05867 gam. Tịch thu tiêu hủy 01sim số 01677797226 và 01 sim số 01653316738.

Tịch thu sung quỹ: Số tiền 567.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số imei 353689087136456, đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu trắng, số imei: 3599994056380307 đã qua sử dụng.

(Tất cả vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/9/2017, giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Văn Lợi (Bu) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của những người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ