vanban.org

Bản án 38/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị H

2- Về con chung: Anh chị 1 con chung là Trần Thanh Vân, sinh ngày 21/01/2013. Khi ly hôn anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con của chị H cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới. 3 - Về tài sản và nợ chung: Anh T không yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2017
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng

Bà Nguyễn Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 161/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2017/QĐXX-ST ngày 07 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1984

HKTT: Tổ 32, phường NT, quận LB, Hà Nội

Hiện ở: ngõ 103, đường LS, tổ 32,phường NT, LB, Hà Nội (Có mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984

HKTT: Tổ 32, phường NT, quận LB, Hà Nội

Nơi cư trú cuối cùng: ngõ 103, đường LS), tổ 32, phường NT, LB, Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2017 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bầy:

Tôi và cô Nguyễn Thị H kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/4/2011 tại Ủy ban nhân dân phường NT, Long Biên, Hà Nội.

Sau khi kết hôn, chúng tôi sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm, lối sống không phù hợp nhau. Cô H thường xuyên dối trá tôi trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong tình cảm vợ chồng, nhiều lần bịa đặt, xuyên tạc những điều không có thật nói xấu chồng và gia đình chồng, tôi nhiều lần khuyên răn nhưng cô H vẫn chứng nào tật ấy, nói dối chồng và gia đình chồng. Trong cuộc sống hằng ngày cô H không chăm lo gia đình, không chăm sóc chồng con, thường xuyên đi sớm về muộn không biết làm gì, tôi có hỏi thì nói dối loanh quanh, không lý giải được. Nhiều lần tôi thấy trong điện thoại, zalo của cô H có những tin nhắn không đứng đắn với người đàn ông khác, tôi nhiều lần gặng hỏi nhưng cô H không thừa nhận, mặc dù vậy tôi cũng biết là cô H không còn chung thủy với tôi. Cũng chính từ những biểu hiện này của cô H dẫn đến vợ chồng hay cãi cọ, tôi không còn niềm tin vào cô H, hai vợ chồng không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.

Tháng 4/2015 mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau thậm tệ, cô H tự ý bỏ nhà đi đâu không rõ từ thời gian đó đến nay, cắt đứt mọi liên lạc với chồng con và gia đình hai bên, tôi cùng gia đình 2 bên nội ngoại cũng đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thấy tung tích gì của cô H, không biết cô H hiện ở đâu, làm gì.

Năm 2016 tôi làm đơn yêu cầu tuyên bố cô Nguyễn Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, ngày 24/8/2016 Tòa án nhân dân quận Long Biên đã ra quyết định số 22/QĐVDS về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với cô Nguyễn Thị H, tôi đã tiến hành đăng tin theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của cô H.

Nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng đã hết, việc cô H tự động bỏ nhà ra đi, không màng gì đến chồng con làm cho cuộc sống của bố con tôi đảo lộn, không đảm bảo cho cuộc sống vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi yêu cầu được ly hôn với cô H.

- Về con chung: Chúng tôi có 1 con chung là Trần Thanh Vân, sinh ngày 21/01/2013 hiện đang ở với tôi. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cô H đóng góp phí tổn nuôi con.

- Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chúng tôi không nợ ai và không cho ai vay nợ.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án nhân dân quận Long Biên ra Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú số 22/QĐVDS ngày 24/8/2016 và đăng tin tìm kiếm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đến nay chị H vẫn vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành triệu tập chị H nhiều lần đến Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của anh T nhưng chị H vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên trình bầy quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Mâu thuẫn của anh T, chị H bắt đầu từ năm 2014, đến tháng 4/2015 mâu thuẫn trầm trọng, chị H bỏ nhà đi đến nay vẫn không có tin tức gì. Nay, anh T làm đơn xin ly hôn xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, bản thân chị H đã bỏ nhà đi hơn 2 năm nay, cuộc sống vợ chồng không đảm bảo, mục đích hôn nhân không đạt được nên thấy cần chấp nhận cho ly hôn. Về con chung: 01 con chung là Trần Thanh Vân, sinh ngày 21/01/2013 hiện đang ở với anh T. Khi ly hôn đề nghị để anh T tiếp tục nuôi con, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con của chị H. Tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét. Đương sự phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tình cảm: Anh Trần Văn T và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/4/2011 tại Ủy ban nhân dân phường NT, Long Biên, Hà Nội. Hôn nhân của anh T và chị H là hôn nhân hợp pháp.

Xét lời khai của anh T thấy: Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm, lối sống không phù hợp nhau, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, không còn niềm tin, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, không tìm được tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.

Tháng 4/2015 mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, chị H bỏ nhà đi đâu không rõ từ thời gian đó đến nay, cắt đứt mọi liên lạc với chồng con và gia đình hai bên, gia đình 2 bên nội ngoại cũng đã đi tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thấy tung tích gì của chị H, không biết chị H hiện ở đâu, làm gì.

Năm 2016 anh T làm đơn yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, ngày 24/8/2016 Tòa án nhân dân quận Long Biên đã ra quyết định số 22/QĐVDS về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Nguyễn Thị H, anh T đã tiến hành đăng tin theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì của chị H.

Qua trao đổi với chính quyền địa phương nơi anh T, chị H sinh sống được biết: Quá trình chung sống tại địa phương anh chị có xảy ra mâu thuẫn, chị H đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 2015 đến nay không có tin tức gì.

Xét mâu thuẫn của anh T, chị H đã trầm trọng, chị H bỏ nhà đi từ năm 2015 đến nay làm cho cuộc sống gia đình không đảm bảo, đời sống vợ chồng không được duy trì, không có sự chăm sóc, gắn kết gia đình giữa bố mẹ và con cái. Chị H bỏ đi đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, việc anh T xin ly hôn là có cơ sở và cần chấp nhận. HĐXX thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã đủ điều kiện để xét cho ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

- Về con chung: Xác định anh chị có 1 con chung là Trần Thanh Vân, sinh ngày 21/01/2013 hiện đang ở với anh T. Chị H đã bỏ nhà đi hiện không có tin tức gì nên cần thiết phải để anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con của chị H cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới.

- Về tài sản và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chong các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 - Bộ luật tố tụng dân sự

- Áp dụng điều 56, 81, 82 - Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn chị Nguyễn Thị H

2- Về con chung: Anh chị 1 con chung là Trần Thanh Vân, sinh ngày 21/01/2013. Khi ly hôn anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con của chị H cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có yêu cầu mới.

3 - Về tài sản và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản và nợ chong các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4 - Án phí: Anh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai 5150 ngày 11/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên.

Án xử công khai sơ thẩm.

Anh T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ