vanban.org

Bản án 38/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Phạm Thị V.

Buộc bà Phạm Thị V phải trả cho bà Hồ Thị L số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền l i theo l i suất cơ ản do Ngân hàng Nhà nước cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hồ Thị L- Phạm Thị V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Phạm Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2017/DS-ST
Ngày: 28/9/2017
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ t a phiên toà: Bà Phan Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Hồng Điều.

2. Ông Vũ Văn Hoàng.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 302/2017/TLST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2017 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2017/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2017, Quyết định ho n phiên tòa số 23/2017/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1955.

Địa chỉ cư tr : Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1961.

Địa chỉ cư tr : Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà L có mặt; bà V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 03/7/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày:

Bà và bà Phạm Thị V quen iết nên ngày 10/12/2016 bà V vay của bà số tiền là 5.000.000 đồng, hai ên th a thuận l i suất 5%/ngày, thời hạn vay là 10 ngày. Khi vay tiền hai ên có làm “Giấy mượn tiền”.

Bà V trả l i được 100.000 đồng thì ngưng không trả l i nữa. Bà đ nhiều lần yêu cầu bà V trả nợ nhưng bà V không thực hiện.

Nay bà yêu cầu bà V phải có ngh a vụ trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng, không yêu cầu tính l i.

Sự việc đ được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng ị đơn bà Phạm Thị V vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án ất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà V trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng. Bà V đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn ản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Hồ Thị L khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị V trả số tiền 5.000.000 đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn bà Phạm Thị V đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn ản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu của bà L yêu cầu bà V phải trả số tiền nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào “Giấy mượn tiền” ngày 10/12/2016 do bà L cung cấp thể hiện ngày 10/12/2016 bà V có vay của bà L số tiền 5.000.000 đồng, nên giữa bà Hồ Thị L và bà Phạm Thị V đ xác lập hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005. Sau khi vay tiền bà V không thực hiện ngh a vụ trả nợ là đ vi phạm vào hợp đồng các ên đ xác lập.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà V vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án ất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý kiến về việc vay nợ nêu trên. Do đó, căn cứ vào “Giấy mượn tiền” ngày 10/12/2016 và lời trình ày của bà L xác định bà V đ vay của bà L số tiền 5.000.000 đồng, hai ên th a thuận l i suất 5%/ngày, bà V trả lãi cho bà L được 100.000 đồng thì bà V ngưng không trả l i và không trả số tiền nợ gốc cho bà L là đ vi phạm ngh a vụ trả nợ, yêu cầu của bà L là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về tiền l i: Bà L không yêu cầu tính l i đối với số tiền 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bà Phạm Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải hoàn trả cho bà Hồ Thị L.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 305, Điều 471, Điều 474, Điều 478 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Phạm Thị V.

Buộc bà Phạm Thị V phải trả cho bà Hồ Thị L số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền l i theo l i suất cơ ản do Ngân hàng Nhà nước công ố tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Hồ Thị L số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đ nộp theo iên lai thu số 0005492 ngày 20/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được niêm yết.

Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ