- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP A-Bà Nguyễn Thị Diệu Tr"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A đối với bà Nguyễn Thị Diệu Tr, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:38/2017/DS-ST Ngày: 21-7-2017 Vụ án:“ Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Dũng
Ông Nguyễn Đắc Liệt
- Thư ký phiên toà : Bà Bùi Thị Ngát – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân TP Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 23/2017/TLST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2017, về viê ̣c “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2017/QĐST-XX ngày 20 tháng 6 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2017/QĐST-HPT ngày 05 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
1/Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A
Địa chỉ: 442 đường N, phường 5, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T – Tổng giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị D – Nhân viên Ngân hàng TMCP A(Giấy ủy quyền số 18/UQ-VTA.17 ngày 23/3/2017 - bà D có mặt)
2/Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Diệu Tr, sinh năm: 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: 101A (số cũ 99/1) đường Đ, P3, Tp V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2016 và quá trình tố tụng tại Tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị D trình bày:
Ngân hàng A và bà Nguyễn Thị Diệu Tr ký Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 ngày 21/01/2014, chi tiết cụ thể như sau: Số tiền vay: 40.000.000 đồng; thời hạn vay: 24 tháng (từ 21/01/2014 đến 21/01/2016; mục đích vay: Tiêu dùng; lãi suất trong hạn: 12.24%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; biện pháp bảo đảm: Tín chấp.
Từ ngày vay vốn đến ngày 10/06/2015, bà Tr đã thanh toán được cho Ngân hàng A các khoản tiền sau: Nợ gốc: 28.339.000 đồng; nợ lãi: 6.936.000 đồng; phạt: 1.200.000 đồng; tổng cộng: 36.475.000 đồng
Trong quá trình vay vốn, bà Tr vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó ngày 01/06/2016, Ngân hàng A đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và ngày 01/07/2016, Ngân hàng A đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 21/07/2017, bà Nguyễn Thị Diệu Tr còn nợ Ngân hàng A các khoản sau: Nợ gốc: 11.661.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 3.264.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.247.858 đồng; tổng cộng: 18.122.122 đồng.
Ngân hàng A yêu cầu bà Nguyễn Thị Diệu Tr trả cho Ngân hàng A tổng số tiền là 18.122.122 đồng ( bao gồm nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn) tính đến ngày 21/7/2017 và tiền lãi phát sinh theo lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 kể từ ngày 21/7/2017 đến khi bà Tr trả hết nợ.
[2] Ý kiến của đại diện Viển kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 48, Điều 49, Điều 51 BLTTDS năm 2015. Phiên tòa diễn ra đúng thời gian, địa điểm được thông báo. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại BLTTDS năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định bà Nguyễn Thị Diệu Tr đã ký Hợp đồng tín dụng trả góp với Ngân hàng, bà Tr đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay của bà Tr sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngân hàng A, chi nhánh Vũng Tàu và bà Nguyễn Thị Diệu Tr có ký Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 ngày 21/01/2014; mục đích vay tiền của bà Tr là để tiêu dùng, nay có tranh chấp về hợp đồng này nên xác định đây là vụ án Dân sự, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; bà Nguyễn Thị Diệu Tr có nơi cư trú tại địa chỉ số 101A (số cũ 99/1) đường Đ, P3, Tp V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Bà Nguyễn Thị Diệu Tr đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nhưng bà Tr vắng mă ̣t nhiều lần không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Tòa án xét xử vắng mặt bà Tr.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của Ngân hàng A yêu cầu bà Nguyễn Thị Diệu Tr phải trả cho Ngân hàng A tổng số tiền 18.122.122 đồng (Trong đó: Khoản tiền nợ gốc: 11.661.000 đồng; khoản tiền nợ lãi trong hạn: 3.264.000 đồng; khoản tiền nợ lãi quá hạn: 3.247.858 đồng) tính đến ngày 21/7/2017 thì thấy:
Ngày 21/01/2014, Ngân hàng A và bà Tr ký Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 ngày 21/01/2014, theo đó Ngân hàng A cho bà Tr vay số tiền 40.000.000đ; thời hạn vay 24 tháng; mục đích vay tiêu dùng; lãi suất trong hạn là 12.36%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
Từ ngày vay vốn đến ngày 10/6/2015, bà Tr đã trả được cho Ngân hàng A các khoản sau: Nợ gốc: 28.339.000 đồng; nợ lãi: 6.936.000 đồng; phạt: 1.200.000 đồng; tổng cộng: 36.475.000 đồng.
Theo thỏa thuận của hai bên tại Điều 2 của Hợp đồng thì thời hạn vay là 24 tháng (từ 21/01/2014 đến 21/01/2016), nhưng do bà Tr vi phạm điều khoản thanh toán nên ngày 01/7/2016, Ngân hàng A đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn và phải chịu lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, theo thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng là hoàn toàn phù hợp. Do đó đối với khoản tiền nợ lãi được tính cụ thể như sau:
Tiền lãi trong hạn: Từ ngày 10/6/2015 đến 21/01/2016; mức lãi suất 12.24%/năm; tổng cộng khoản nợ lãi là 3.264.000 đồng;
Tiền lãi quá hạn: Từ ngày 22/01/2016 đến ngày 21/7/2017; mức lãi suất là 18.36%/năm; tổng cộng khoản nợ lãi quá hạn là 3.247.122 đồng;
Tổng cộng cả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tính đến ngày 21/7/2017 là 18.122.122 đồng.
Từ những phân tích đã nêu trên xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ađối với bà Nguyễn Thị Diệu Tr; buộc bà Nguyễn Thị Diệu Tr phải thanh toán nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng TMCP Agồm những khoản tiền cụ thể như sau: Khoản tiền nợ gốc: 11.661.000 đồng; khoản tiền nợ lãi trong hạn: 3.264.000 đồng; khoản tiền nợ lãi quá hạn: 3.247.858 đồng
Tiền lãi phát sinh tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2017 theo Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 ngày 21/01/2014, giữa Ngân hàng TMCP A- Chi nhánh Vũng Tàu và bà Tr cho đến khi trả hết nợ.
Án phí DSST: Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Tr phải chịu toàn bộ án phí đối với nghĩa vụ trả số tiền 18.122.122đ
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A đối với bà Nguyễn Thị Diệu Tr, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
[1.1] Buộc bà Nguyễn Thị Diệu Tr phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP A tổng số tiền 18.122.122 đồng (mười tám triệu, một trăm hai mươi hai ngàn, một trăm hai mươi hai đồng), trong đó: Khoản tiền nợ gốc: 11.661.000 đồng; khoản tiền nợ lãi trong hạn: 3.264.000 đồng; khoản tiền nợ lãi quá hạn: 3.247.858 đồng, tính đến hết ngày 21/7/2017.
[1.2] Tiền lãi phát sinh được tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2017, theo Hợp đồng tín dụng trả góp số VTA.UIL.01.210114 ngày 21/01/2014, giữa Ngân hàng TMCP A- Chi nhánh Vũng Tàu và bà Nguyễn Thị Diệu Tr cho đến khi trả hết nợ.
[2] Án phí Dân sự sơ thẩm:
[2.1] Bà Nguyễn Thị Diệu Tr phải nộp 906.106 đồng (chín trăm lẻ sáu ngàn, một trăm lẻ sáu đồng)
[2.2] Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 420.000đ (bốn trăm hai mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002032 ngày 14/02/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR- VT; - VKSND TP. Vũng Tàu; - THA Dân sự TP VũngTàu; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Mai |