- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Th và anh Nguyễn Chí L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 37A/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/05/2025 V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Minh Nhựt
2. Bà Nguyễn Hải Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Bành Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về "Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Th, sinh năm 1993.
Địa chỉ: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Chị Th có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí L, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Th trình bày:
Vào năm 2011 được sự đồng ý của gia đình hai bên chị cùng anh Nguyễn Chí L có chung sống vợ chồng, tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/12/2011 tại UBND xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình chung sống chị và anh L có 01 người con chung là Nguyễn Ánh D, sinh ngày 23/8/2013. Về tài sản chung, quá trình chung sống anh chị không có tạo lập tài sản chung; Về nợ chung không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị cùng anh L thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên tranh cãi dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Chị và anh L đã ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị cảm thấy không hạnh phúc khi chung sống với nhau, vợ chồng chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành.
Tại phiên tòa, chị yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí L;
Về con chung: Yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là Nguyễn Ánh D, sinh ngày 23/8/2013, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung;
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Chí L:
Đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhưng anh Nguyễn Chí L vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Phạm Th khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Chí L nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, bị đơn anh Nguyễn Chí L có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, tại phiên tòa chị Th đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, chị Th và anh L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, do đó quan hệ hôn nhân chị Phạm Th và anh Nguyễn Chí L là hợp pháp.
Theo chị Th trình bày trong thời gian chung sống chị và anh L sống hạnh phúc với nhau được một thời gian, sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm với nhau, tính tình vợ chồng không hòa hợp. Tại phiên tòa, chị Th kiên quyết xin ly hôn, từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh L không có khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.
[3] Về quan hệ nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị Th và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Ánh D, sinh ngày 23/8/2013 hiện đang sống cùng chị Th; chị Th yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng chị Th là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D từ khi sinh ra cho đến nay nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu D cho chị Th chăm sóc, nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng của cháu D) để không làm thay đổi môi trường sinh sống của cháu là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Nguyễn Chí L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về việc cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th cam kết trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, việc này cũng đã được thông báo cho anh L trong Thông báo thụ lý vụ án, nhưng đến nay bị đơn không có ý kiến gì phản bác hay có yêu cầu gì khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Th và anh Nguyễn Chí L.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ánh D, sinh ngày 23/8/2013 cho chị Phạm Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Th tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Chí L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Th phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010555 ngày 10/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ánh Tuyết |