vanban.org

Bản án 378/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/09/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Luật phí và lệ phí; Luật thi hành án dân sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN G
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 378/2023/DS–ST
Ngày: 05–9–2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bích Loan

Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân

QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN G tham gia phiên tòa: Lê Duy

Bảo Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân QUẬN G, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 323/2023/TLST-DS

ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 353/2023/QĐXXST–DS ngày 25 tháng 7 năm 2023

và Quyết định hoãn phiên tòa số 341/2023/QĐST–DS ngày 15 tháng 8 năm

2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng S; Địa chỉ trụ sở: Số 266-268, đường Nam Kỳ

Khởi N, phường Võ Thị S, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện

hợp pháp: Ông Trần Đức T; Địa chỉ: Lầu 5, đường Nam Kỳ Khởi N, phường Võ

Thị S, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; Văn bản ủy quyền ngày 26/4/2023.

(Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Khắc B; Địa chỉ: Số A đường Nguyễn Thượng H,

Phường 01, QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người

đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng S (gọi tắt Ngân hàng) có người đại

diện hợp pháp ông Trần Đức T trình bày:

Ngân hàng S và ông Trần Khắc B ký kết hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng

(Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng gọi chung là hợp đồng), hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ ông B giao dịch với tổng số tiền 20.989.000 đồng.

Lãi tính trên từng ngày giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất

Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Quá trình sử dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ ông B đã thanh toán cho ngân

hàng 18.200.000 đồng, số tiền thanh toán được áp dụng theo thứ tự theo quy định tại Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:

Các khoản phí, lãi của kỳ trước;

Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;

Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;

Các khoản phí, lãi trong kỳ;

Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;

Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả

nợ, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Ngày 01/01/2020, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dư nợ là 13.985.262 đồng chuyển thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại (2,6%x150%= 3,9%/tháng).

Ngân hàng thường xuyên đôn đốc, làm việc với ông B nhưng ông vẫn

không thanh toán khoản nợ quá hạn, vi phạm các điều khoản quy định tại hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân QUẬN G giải quyết:

Buộc ông B phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền 38.420.526 đồng tính

đến ngày 05/9/2023, trong đó: nợ gốc 13.985.262 đồng và lãi quá hạn 24.435.264 đồng. Ông B còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 06/9/2023 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Toà án đã tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc

thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải (02 lần); Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định

đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Giấy triệu tập tham dự phiên toà

đối với bị đơn là ông B nhưng ông B đều vắng mặt, không có lý do.

Do ông B vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa

ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T vắng mặt

(có đơn xin vắng mặt) và bị đơn ông B vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN G, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ

án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà kể từ khi thụ lý vụ án cho

đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng theo quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng

dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn, đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ

tục tố tụng:

Nguyên đơn Ngân hàng S khởi kiện ông Trần Khắc B phải trả số tiền còn

nợ, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông B có địa chỉ tại Số A

đường Nguyễn Thượng H, Phường 01, QUẬN G. Nên vụ án thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân QUẬN G theo quy định tại Khoản 3 Điều 26,

Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T có yêu cầu xét xử vắng

mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 1

Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân QUẬN G tiến hành thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các

văn bản tố tụng đối với ông B theo đúng quy định tại Điều 177 và Điều 179 của

Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông B đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3

Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử

chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi vấn đề đương sự có yêu cầu, những vấn đề

liên quan đến vụ án đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Ngân hàng yêu cầu ông B thanh toán ngay số tiền nợ tính đến hết

ngày 05/9/2023 là 38.420.526 đồng, trong đó nợ gốc 13.985.262 đồng, lãi quá hạn 24.435.264 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ

tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng); cùng lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông B, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,6%/tháng.

Ông B đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 20.989.000 đồng. Do ông B

vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngày 01/01/2020, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ, toàn bộ dư nợ 13.985.262 đồng chuyển thành nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại theo Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng là 3,9%/tháng (2,6%x150%). Tính từ ngày 01/01/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 05/9/2023, tiền lãi quá hạn là 24.435.264 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông B phải thanh toán số nợ 38.420.526 đồng, trong đó nợ gốc 13.985.262 đồng, lãi quá hạn 24.435.264 đồng hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Ngân hàng yêu cầu ông B còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh từ

ngày 06/9/2023 trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông B

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% x 38.420.526 đ= 1.921.026 đồng.

Nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại 899.152 đồng tiền tạm ứng án

phí cho nguyên đơn.

Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1

Điều 40, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều

273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 4, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Luật phí và lệ phí;

Luật thi hành án dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí, lệ phí Tòa án;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật

về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Ông Trần Khắc B có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S số tiền

38.420.526 (Ba mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn năm trăm hai mươi

sáu) đồng, trong đó nợ gốc 13.985.262 (Mười ba triệu chín trăm tám mươi lăm

nghìn hai trăm sáu mươi hai) đồng, lãi quá hạn 24.435.264 (Hai mươi bốn triệu

bốn trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi bốn) đồng, theo Hợp đồng sử

dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày

11/12/2017 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng),

ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 06/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi trên số tiền nợ

gốc theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Khắc B phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.921.026 (Một triệu

chín trăm hai mươi mốt nghìn không trăm hai mươi sáu) đồng.

Trả lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 899.152 (Tám

trăm chín mươi chín nghìn một trăm năm mươi hai) đồng theo Biên lai thu số

AA/2023/0011707 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự QUẬN G,

Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành

theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân

sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu

cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy

định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được

thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời

hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ