- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Thị Cẩm L - Trần Thị Đ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm L đối với bà Trần Thị Đ về việc yêu cầu bà Trần Thị Đ phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Cẩm L với số tiền 15.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 377/2025/DS-PT Ngày 10- 9 - 2025 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Anh Tuấn
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 286/2025/TLPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2025 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9-Cà Mau) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 343/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm L, sinh ngày 19/5/1984 (Có mặt)
Căn cước công dân số: *****4005428, cấp ngày 27/5/2024.
Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp N, xã N A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu).
Bị đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1977 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ trước đây: Ấp N, xã N A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L trình bày: Bà Trần Thị Đ là chị em cùng mẹ khác cha với bà L. Vào ngày 07/9/2024 (dương lịch) bà Đ đến nhà của bà Phan Thị Bích Liễu ở cùng xóm với bà L và bà Đ tung tin nói bà L ăn ngủ với anh rể bà L là ông Mai Văn Cứ và được ông Cứ cho 05 chỉ vàng. Việc bà Đ tung tin như trên có sự chứng kiến của bà Phan Thị Bích Liễu, bà Trần Thị Xuân, ông Nguyễn Vũ Lăng, bà Nguyễn Thị Cương, bà Nguyễn Thị Cương, bà Võ Thị Sum, bà Nguyễn Thị Mười Hai, bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Văn Sơn và ông Nguyễn Văn Tư chứng kiến.
Tiếp đó, vào ngày 09/09/2024 (dương lịch), bà Đ vừa rêu rao bà ăn ngủ với với anh rể bà là ông Cứ và bà Đ cũng đồng thời đứng trước nhà của bà chửi bới bà, bà Đ cùng với 02 người con của ông Mai Văn Cứ là chị Mai Thị Liểl, chị Mai Thị Quyên định xông vào bà để đánh bà thì được mọi người can ngăn lại, trong những người can ngăn có ông Trần Văn Sơn (ông Sơn là anh ruột của bà Đ và là anh cùng mẹ khác cha với bà). Khi ông Sơn can ngăn, ông Sơn có lớn tiếng la rầy chị Mai Thị Liểl, chị Mai Thị Quyên nên khi Công an mời các bên liên quan ra Công an xã hòa giải thì có mời chị Mai Thị Liểl và ông Trần Văn Sơn cùng với bà L và bà Đ nhưng hoà giải không thành.
Nay bà L yêu cầu bà Trần Thị Đ phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà với số tiền là 15.000.000 đồng
Bị đơn bà Trần Thị Đ trình bày: Sau khi xảy ra sự việc đánh nhau giữa bà Đ với và bà L vào ngày 13/04/2023 một thời gian, 02 người con của ông Mai Văn Cứ và bà Trần Thị Lệ (bà Lệ là chị ruột của bà Đ) là chị Mai Thị Liểl và chị Mai Thị Huyên từ Bạc Liêu về nhà của bà Trần Thị Hạnh (bà Hạnh cũng là chị ruột của bà Đ) tại ấp N, xã N A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu để chơi và có rủ bà ra nhà bà Hạnh chơi. Sau đó bà có ra nhà bà Hạnh chơi (nhà bà Hạnh và nhà bà L nằm cặp vách nhau và đối diện với nhà của vợ chồng ông Trần Văn Sơn, bà Nguyễn Thị Mười Hai). Đến khoảng 19 giờ tối cùng ngày, chị Mai Thị Liểl và chị Mai Thị Huyên có qua nhà của vợ chồng ông Sơn, bà Mười Hai nhưng bà không biết qua nhà vợ chồng ông Sơn, bà Mười Hai để làm gì. Một lúc sau, bà Đ đang ở trong nhà bà Hạnh thì nghe tiếng của cháu Nguyễn Công Vinh (Vinh là con của bà L) chửi thề, bà Đ bước ra xem thì thấy cháu Vinh chạy vào nhà ông Sơn trên tay cầm khúc sắt và nói: “Tao đánh cho chết mẹ mày” nhưng khi vô tới nhà ông Sơn thì bà không thấy cháu Vinh cầm khúc sắt nữa và cũng không thấy đánh ai. Tiếp đó, bà Đ thấy ông Trần Văn Sơn xô chị Liểl và chị Huyên ra trước sân nhà ông Sơn không cho ở trong nhà của ông Sơn, khi chị Liểl và chị Huyên bị ông Sơn đuổi ra khỏi nhà thì chị Liểl và chị Huyên có đứng ở ngoài sân nhà ông Sơn cự cãi trở ngược vô nhà của ông Sơn với bà Mười Hai và bà L. Trong lúc hai bên cự cãi qua lại, bà Đ có nghe chị Liểl và chị Huyên nói với bà Mười Hai: “Mợ xuống nhà con để làm gì trong khi mẹ con không có nhà, mợ xuống với mục đích gì” thì bà Mười Hai có nói lại với chị Liểl và chị Huyên: “tao xuống nhà lấy cha mày để lấy tiền nuôi ông Sơn, tụi mày là quân ăn cắp, vàng của cha mày tụi mày cũng lấy, mày không lấy ổng cho tao 05 chỉ, giờ tao xuống đòi được chưa”. Khi bà Mười Hai nói xong câu nói trên, chị Liểl và chị Huyên có nói với bà Mười Hai: “con cấm mợ từ đây về sau không được xuống nhà cha con nữa”, bà Mười Hai tiếp tục nói: “tao không xuống nhà cha mày, tao điện cha mày ra nhà trọ, chơi xong kéo quần lên mày làm gì tao”. Khi hai bên cự cãi qua lại, bà Đ có đứng cách đó khoảng 15m – 20m (bà đứng trước lộ ngang nhà của bà Phan Thị Bích Liễu, lúc đó có ông Nguyễn Văn Tư (tên thường gọi là: Tư Trăn) và vợ chồng bà Phan Thị Bích Liễu, thì bà Liễu có hỏi bà: “vụ gì mà vàng vàng vậy” nên bà có thuật lời của bà Mười Hai nói với chị Liểl và chị Huyên nêu trên cho bà Liễu nghe, khi bà nói lại cho bà Liễu nghe, bà cũng nói với bà Liễu là bà Mười Hai nói chứ không phải bà nói bà L. Khi bà thuật lại cho bà Liễu lời của bà Mười Hai nêu trên, bà Liễu tiếp tục hỏi bà: “sao bà Mười Hai đi xuống nhà ông Cứ được”, bà có trả lời bà Liễu là: “Bà L chở bà Mười Hai đi, bà Mười Hai vô nhà ông Cứ”. Ngoài ra, bà Đ hoàn toàn không có nói gì về việc bà L ăn ngủ với ông Cứ để được ông Cứ cho vàng như bà L trình bày.
Còn việc bà L cho rằng bà nói xấu bà L ăn ngủ với ông Cứ để được ông Cứ cho vàng có sự chứng kiến của bà Trần Thị Xuân, ông Nguyễn Vũ Lăng, bà Nguyễn Thị Cương, bà Võ Thị Sum, bà Nguyễn Thị Mười Hai, bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Văn Sơn và ông Nguyễn Văn Tư là hoàn toàn không có. Những người mà bà L liệt kê nêu trên từ trước đến nay bà không có tiếp xúc với họ, có một số người như Trần Thị Xuân, Võ Thị Sum, Nguyễn Văn Sơn thì bà không biết những người này là ai.
Do đó, bà Đ không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu bà phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà L với số tiền là 15.000.000 đồng.
Từ nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau) đã quyết định:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm L đối với bà Trần Thị Đ về việc yêu cầu bà Trần Thị Đ phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Cẩm L với số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 30 tháng 6 năm 2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cẩm L khởi kiện bà Trần Thị Đ yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; bị đơn bà Trần Thị Đ cư trú tại ấp N, xã N A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau) thụ lý, giải quyết là đúng quan hệ tranh chấp và đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong hạn luật định và thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
Về nội dung: Xét căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm của bà Nguyễn Thị Cẩm L đối với bà Trần Thị Đ: Bà L cho rằng vào ngày 07/7/2024 (dương lịch) bà Trần Thị Đ đến nhà của bà Phan Thị Bích Liễu ở cùng xóm với bà L để tung tin nói bà L ăn ngủ với anh rể là ông Mai Văn Cứ và được ông Cứ cho 05 chỉ vàng. Tiếp đó, ngày 09/7/2024 (dương lịch), bà Đ rêu rao bà ăn ngủ với với anh rể bà là ông Cứ. Tuy nhiên, bà Đ phủ nhận việc tung tin như ý kiến của bà L, bà Đ khẳng định không nói những sự việc như bà L trình bày. Bà L là người khởi kiện nên bà L có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của bà là có căn cứ.
Bà L cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà bằng cách giao nộp cho Tòa án biên bản hòa giải tại Công an xã Ninh Quới A ngày 30/9/2024 vì theo bà L tại buổi hòa giải này bà Đ đã thừa nhận việc nói xấu bà L. Tuy nhiên, Tòa án kiểm tra nội dung biên bản hoà giải tại Công an xã Ninh Quới A ngày 30/9/2024 thể hiện bà Đ chỉ thừa nhận: “tôi không đặt điều nói xấu bà L, tôi chỉ thuật lại lời bà Mười Hai nói”, ngoài ra, trong biên bản hoà giải này không có bất kỳ nội dung nào ghi nhận bà Đ thừa nhận có xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà L. Đồng thời, trong suốt quá trình làm việc tại Công an xã Ninh Quới A, bà L và những người làm chứng cũng không nói đến việc bà Đ nói bà L ăn ngủ với anh rể là ông Mai Văn Cứ và được ông Cứ cho 05 chỉ vàng.
Bên cạnh đó, bà L cung cấp các nhân chứng là bà Nguyễn Thị Ngọc, bà Nguyễn Thị Mười Hai, bà Trần Thị Xuân để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà. Tuy các nhân chứng đều cho rằng có nghe bà Đ nói với họ: “bà L ăn ngủ với anh rể bà là ông Mai Văn Cứ và được ông Cứ cho 05 chỉ vàng”. Tuy nhiên, bà Mười Hai thừa nhận giữa bà Mười Hai và bà Đ đang xảy ra mâu thuẫn nên lời khai bà Mười Hai không đảm bảo tính khách quan. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Thị Lệ là người có mặt tại nơi xảy ra sự việc xác định bà Đ chưa từng nói bà L ăn ngủ với chồng cũ của bà Lệ là ông Mai Văn Cứ và được ông Cứ cho 05 chỉ vàng. Do đó, chỉ có lời khai của bà Nguyễn Thị Ngọc thì không đủ căn cứ chứng minh sự việc bà Đ nói xấu bà L như bà L trình bày.
Ngoài chứng cứ biên bản hòa giải tại Công an xã Ninh Quới A và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc, bà Nguyễn Thị Mười Hai, bà Trần Thị Xuân như đã nêu trên, bà L không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc bà Đ nói xấu bà L. Do đó, cấp sơ thẩm xác định không có chứng cứ chứng minh việc bà Đ có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà L nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu bà Đ bồi thường số tiền 15.000.000 đồng do đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm L yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L: Xét thấy, như đã nhận định, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan và toàn diện. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn có mời ông Nguyễn Văn Tư đến tại Tòa để trình bày sự việc, tuy nhiên, ông Tư là anh em cùng cha khác mẹ với bà L nên lời khai không đảm bảo tính khách quan. Ngoài ra, bà L không cung cấp thêm chứng cứ khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau), như đã phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Án phí phúc thẩm: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà L thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí phúc thẩm cho bà L.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm L; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau).
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584 Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm L đối với bà Trần Thị Đ về việc yêu cầu bà Trần Thị Đ phải bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị Cẩm L với số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị Cẩm L.
2.1. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Cẩm L.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa PT TATC tại Tp. HCM (01 bản); - VKSND tỉnh Cà Mau (01 bản); - TAND Khu vực 9 – Cà Mau (01 bản); - Phòng THADS Khu vực 9 – Cà Mau (01 bản); - Các đương sự; - Lưu HS, Tổ HCTP (01 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Nguyệt |