- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà L xin ly hôn ông T"
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 377/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 9 – 2022 V/v “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Yến Nhi
2. Bà Lê Trường An
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Chiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 555/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1972 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp ĐB, xã KBT, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1972 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp ĐB, xã KBT, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện T.
Địa chỉ: Khóm 9, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Do ông Trịnh Thanh N – Phó Giám đốc làm đại diện (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn, biên bản hòa giải tại tòa, bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T thống nhất trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Bà L và ông T chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1995, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, bà L và ông T cho rằng vợ, chồng không còn tình cảm yêu thương, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế ông, bà không còn chung sống vợ, chồng nhiều năm qua.
Từ nội dung trên, bà L và ông T nhận thấy tình cảm của ông, bà không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên ông, bà đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được chấm dứt quan hệ vợ, chồng.
- Về con chung: Bà L và ông T xác định có 03 người con chung là Trần Thanh T, sinh ngày 01/01/1996; Trần Thanh B, sinh ngày 01/01/1998; Trần Thị H, sinh ngày 01/01/2009. Khi ly hôn, nguyện vọng cháu H muốn sống với ai thì người đó nuôi, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Cháu T và cháu B đã thành niên nên không đặt ra yêu cầu.
- Về tài sản chung: Bà L và ông T xác định không có.
- Về nợ chung: Bà L và ông T xác định có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện T số tiền gốc 40.000.000đ, hàng tháng vẫn đóng lãi đầy đủ. Khi ly hôn, bà L, ông T yêu cầu được chia đôi số nợ.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 21/9/2022, đại diện Ngân hàng Chính sách xã hội – Phòng giao dịch huyện T trình bày:
Ngày 05/11/2020, Ngân hàng có cho ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị L vay số tiền gốc 40.000.000đ, lãi suất trong hạn 7,92%/năm, lãi quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, thời hạn cho vay 60 tháng, mục đích vay để xây dựng chuồng trại chăn nuôi. Quá trình vay, ông T và bà L vẫn thực hiện nghĩa vụ trả lãi đầy đủ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, nay ông T và bà L ly hôn đồng thời ông, bà yêu xác định trách nhiệm trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông T và bà L phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với tổng số tiền 40.277.742đ, trong đó nợ gốc 40.000.000đ, lãi 277.742đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với việc vắng mặt đương sự: Xét thấy bà L, ông T và đại diện Ngân hàng có yêu cầu xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông T và Ngân hàng theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1995 đến nay. Theo bà L và ông T trình bày, giữa ông, bà không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của bà L và ông T đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay bà L và ông T có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, ông, bà luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, bà L và ông T xác định tình cảm vợ, chồng giữa ông, bà không còn nên ông, bà đã tự ly thân nhiều năm qua.
Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư L tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét mâu thuẫn thực tế của bà L, ông T đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Xét thấy cháu T, cháu B đã thành niên nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng là phù hợp. Đối với cháu H do bà L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu muốn chung sống với bà L nên giao cháu H cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp. Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, bà L không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Bà L và ông T xác định không có nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà L và ông T hiện còn nợ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện T tổng số tiền 40.277.742đ, trong đó nợ gốc 40.000.000đ, lãi 277.742đ nên buộc bà L và ông T có nghĩa vụ liên đới trả khoản nợ trên cho Ngân hàng là phù hợp.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà L là nguyên đơn nên bà phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm về thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, bà L và ông T phải chịu theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bà L và ông T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư L tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- Căn cứ các Điều 357, 422, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 1 của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T.
2 - Về con chung: Giao cháu Trần Thị H, sinh ngày 01/01/2009 cho bà Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Văn T không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3 - Về tài sản chung: Bà L, ông T xác định không có nên không đặt ra xem xét.
4 - Về nợ chung: Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện T tổng số tiền 40.277.742đ, trong đó nợ gốc 40.000.000đ, lãi 277.742đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà L phải chịu 300.000đ, ngày 23 tháng 8 năm 2022, bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số: 5334 được đối trừ chuyển thu. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch buộc bà L và ông T phải chịu 2.013.000đ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
6 - Về quyền kháng cáo: Bà L, ông T, Ngân hàng Chính sách xã hội được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện T; - CCTHADS huyện T; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Minh Hải |