- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiền Ph - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– Bản án số: 377/2021/HS-PT Ngày 22-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lê Công Huân
Các"Thẩm"phán:""1. Ông Đặng Hồng Sơn
2. Ông Nguyễn Tuấn Anh
Thư" ký" phiên" tòa:" Ông Lê Trọng Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"
phiên"tòa:"Bà Hồ Thị Thanh Xuân"- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số:
327/2021/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Hiền
Ph, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:
275/2021/HS-ST ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"""
Nguyễn Hiền Ph, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường
trú: Số X, Quốc lộ X, khu phố 6, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lái xe nâng và Dân quân tự
vệ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Con ông Nguyễn Hiền S và bà Phạm Hoàng Diễm Tr; Có vợ Nguyễn Huỳnh T,
sinh năm: 2001 và có 02 con, lớn sinh năm: 2017, nhỏ sinh năm: 2019; Tiền sự:
Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi
nơi cư trú” - Có mặt."
Ngoài ra trong vụ án còn có Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông
Đặng Văn Thuận, bà Võ Kim Hồng và bà Trần Thị Liên; Người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ
ô tô Chí Thành, do bà Trần Thị Dướt là người đại diện theo pháp luật, không
kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.""
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/10/2020, Nguyễn Hiền Ph điều khiển xe
máy chuyên dụng (xe nâng lốp) biển số 50LA – 3568 lưu thông trên Quốc lộ 1 theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu Bình Phước 2. Khi lưu thông đến trước số nhà 35, Quốc lộ 1, khu phố 1, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, thì Phúc điều khiển cho xe chuyển làn từ làn số 1 sang làn số 2 không đảm bảo an toàn để bên trái giá nâng hàng phía trước xe chuyên dùng biển số 50LA – 3568 va chạm với phía sau xe mô tô biển số 60R2 – 9397 do anh Đặng Văn Công điều khiển đang lưu thông bên trái cùng chiều làm xe mô tô và anh Công ngã xuống đường, anh Công tử vong tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nhẹ.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1319/TT.20 ngày 18/11/2020
của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về nguyên nhân tử vong của anh Đặng Văn Công là chết do đa chấn thương.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được Công an phường Hiệp Bình
Phước bảo vệ. Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Quốc lộ 1, khu phố 1, phường Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức đoạn trước nhà số 35 Quốc lộ 1 được trải nhựa bằng phẳng, giữa đường có dải phân cách cứng áp dụng lưu thông hai chiều riêng biệt. Chiều lưu thông trên Quốc lộ 1 theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu Bình Phước 2 được chia thành 03 làn đường, làn trong cùng (làn số 1) rộng 15m20, dành cho xe mô tô 2,3 bánh lưu thông, xe ô tô rẽ phải, làn số 2 rộng 4m50 và làn số 3 rộng 3m60 dành cho xe ô tô lưu thông. Chọn mép lề phải theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu Bình Phước 2 làm lề chuẩn. Chọn trụ điện số N1H trên lề chuẩn làm điểm cố định để tiến hành đo vẽ hiện trường.
Sau tai nạn hiện trường để lại: Xe máy chuyên dùng biển số 50LA – 3568,
xe mô tô biển số 60R2 – 9397, vết chà, vết cày, mảnh bể xe mô tô biển số 60R2 – 9397, vết phanh, tử thi nam, vị trí các dấu vết như sau:
Trụ điện số N1H (vị trí số 1) nằm trên lề chuẩn từ trụ điện do ra lề chuẩn
2m90.
Xe máy chuyên dùng (xe nâng) biển số 50LA – 3568 (vị trí số 2) đỗ dọc
trên đường, giữa làn số 1 và làn số 2, đầu xe hướng về cầu Bình Phước 2, hơi lệch vào lề phải, đuôi xe hướng ngược lại, từ tâm trục bánh trước bên phải đo vào lề chuẩn 13m00, từ tâm trục bánh sau bên phải đo vào lề chuẩn 14m00, từ tâm trục bánh trước bên trái đo đến chân tử thi nam 01m60, từ tâm trục bánh sau bên trái đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 60R2 – 9397 là 0m40.
Xe mô tô biển số 60R2 – 9397 (vị trí số 4) ngã phải, nằm dọc trên làn
đường số 2, đầu xe hướng về cầu vượt Bình Phước, hơi lệch ra hướng dải phân cách, đuôi xe hướng ngược lại, từ tâm trục bánh trước đo vào lề chuẩn 17m00
từ tâm trục bánh sau đo vào lề chuẩn 16m40. Đầu tử thi đo vào lề phía trước
dải phân cách phía trước đầu xe mô tô biển số 51D – 46615, đầu xe hướng về
cầu vượt Bình Phước, đuôi xe hướng ngược lại, từ tâm trục bánh trước bên phải
đo vào lề chuẩn 5m70, tâm trục bánh sau bên phải đo vào lề chuẩn 5m70.
Tử thi nam (vị trí số 3) nằm ngửa dọc trên làn đường số 2, đầu tử thi
hướng về phía cầu vượt Bình Phước 2, chân hướng ngược lại, hơi lệch ra
hướng dải phân cách, từ đầu tử thi đo vào lề chuẩn 14m90, đo đến cuối vết chà
là 0m20, từ chân tử thi đo vào lề chuẩn 16m00.
Vết chà (vị trí số 5) có kích thước 7m50x0m80 nằm trên làn đường số 2,
còn dính trên mặt đường vết máu, óc, thịt, có chiều hướng từ cầu vượt Bình
Phước 2, điểm đầu vết chà đo vào lề chuẩn 16m40 cuối vết chà kết thúc ngay
gần đầu tử thi.
Trên mặt đường (làn số 2) theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu
Bình Phước 2 để lại vết cày (vị trí số 6) dài 9m50, điểm đầu vết cày đo vào lề
chuẩn 17m10, đo đến cuối vết phanh là 0m80, điểm cuối vết cày kết thúc tại
gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 60R2 – 9397.
Mảnh vỡ xe mô tô biển số 60R2 – 9397 (vị trí số 7) có kích thước 3m30 x
1m50 nằm rải rác gần đầu vết cày, trên làn đường thứ 2, từ tâm mảnh bể đo vào
lề chuẩn 16m30, đo đến cuối vết phanh là 01m60.
Trên mặt đường (làn số 2) theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu
Bình Phước 2 để lại vết phanh (vị trí số 8) có kích thước 01m60 x 0m10, đầu
vết phanh đo vào lề chuẩn 16m90, cuối vết phanh đo vào lề 17m20.
Kết quả khám phương tiện như sau:
Xe máy chuyên dùng biển số 50LA – 3568 để lại dấu vết: Mặt ngoài vỏ
bánh trước bên trái bị rách kích thước 11cm x 8cm, điểm gần nhất đo cách trục
bánh xe 45cm. Mặt ngoài vỏ bánh trước bên trái có vết xước hình răng cưa kích
thước 10cm x 10cm, điểm gần nhất đo cách trục bánh xe là 45cm. Mặt tiếp xúc
vỏ ngoài bánh trước bên trái còn dính chất liệu màu đỏ nghi là máu kích thước
26cm x 50cm, điểm gần nhất đo cách trục bánh xe 45cm. Cản phía trước bàn
nâng bên trái sạch bụi còn dính chất liệu màu nâu kích thước 6cm x 2cm, điểm
thấp nhất đo cách mặt đất là 37cm, cách đầu cản bên phải là 3cm.
Xe mô tô biển số 60R2 – 9397 để lại dấu vết: Bánh sau bị cong biến dạng,
vỏ xe ruột xe bị bung ra khỏi niềng xe. Đầu gác chân trước bên phải bị trầy
xước kim loại, tróc cao su, kích thước 4cm x 3cm, điểm thấp nhất đo cách mặt
đất là 20cm. Mặt ngoài ống pô bị trầy xước, cong có chiều hướng từ phải sang
trái kích thước 340cm x 8cm, điểm thất nhất đo cách mặt đất 10cm. Dè chắn
bùn phía sau bị gãy rơi khỏi xe. Cốp bên phải bị bể rơi khỏi xe. Đĩa bánh sau có
vết sạch bụi kích thước 12cm x 4cm, điểm thấp nhất đo cách mặt đất là 15cm.
Mặt ngoài biển số xe còn dính chất liệu màu đen nghi là nhớt, mỡ bò kích
thước 20cm x 2cm, điểm thấp nhất đo cách mặt đất là 41cm.
Bản kết luận giám định số 5688/C09B ngày 06/11/2020 của Phân viện
khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
Dấu vết trượt xước, mất bụi, bám màng máu xám mặt trước và mặt trên
bên trái thanh ngang giá nâng hàng phía trước xe chuyên dùng biển số 50LA – 3568, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, gãy vỡ, bám dầu nhớt màu đen phía sau xe mô tô biển số 60R2 – 9397 (mặt ngoài biển số, cụm đèn tín hiệu, ốp nhựa phía sau) có chiều từ sau về trước.
Dấu vết trượt xước, rách cao su các chi tiết phía trước bên trái xe máy
chuyên dùng biển số 50LA – 3568 (gồm: cạnh dưới thanh kim loại ngang giá nâng hàng, mặt ngoài thanh kim loại dọc giá nâng hàng, má bên trái lốp bánh ngoài phía trước bên trái), có chiều từ trước về sau, từ tâm ra mặt lăn bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước, cong biến dạng, gãy các chi tiết phía sau bên trái xe mô tô biển số 60R2 – 9397 (gồm: bánh sau, ốc chỉnh nhông sên, chắn bùn) có chiều từ trái sang phải, từ mặt lăn vào tâm bánh, khi xe mô tô biển số 60R2 – 9397 ngã phải trên mặt đường.
Dấu vết trượt xước, biến dạng vỡ, các chi tiết bên phải xe mô tô biển số
60R2 – 9397 (ốp nhựa đầu xe, tay phanh, cốp, ống bô, tay nâng yên sau) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm mặt đường.
Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe máy chuyên dùng biển số 50LA
– 3568 và xe mô tô biển số 60R2 – 9397 với phương tiện khác.
Trên cơ chế hình thành dấu vết và tài liệu kèm theo, xác định:
Bên trái giá nâng hàng phía trước xe chuyên dùng biển số 50LA – 3568 và
phía sau xe mô tô biển số 60R2 – 9397 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm
trước đầu vết cày số 6, thuộc làn dành cho ô tô (làn thứ 3) Quốc lộ 1, theo hướng từ cầu vượt Bình Phước đến cầu vượt Bình Phước 2.
Bánh bên trái xe máy chuyên dùng biển số 50LA – 3568 không cán qua
người nạn nhân.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 275/2021/HSST ngày 07-7-2021 của Tòa
án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hiền Ph phạm tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời
hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 7 năm 2021, bị cáo Nguyễn
Hiền Ph có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hiền Ph đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội
dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo
không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội
đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phát biểu
quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Hiền Ph tại phiên tòa phúc
thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hiền Ph về tội “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ đúng người,
đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên mức án 01 năm 06 tháng tù
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc vì bị
cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bản án sơ
thẩm đã đề cập và bị hại cũng có một phần lỗi. Xét bị cáo có nghề nghiệp và
nơi cư trú ổn định, trong thời gian được tại ngoại luôn chấp hành tốt quy định
của pháp luật, nên không cần phải áp dụng hình phạt tù giam mà cho bị cáo
được hưởng án treo với thời gian thử thách cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục
đối với bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị
cáo Nguyễn Hiền Ph, giữ nguyên mức án sơ thẩm, nhưng cho bị cáo được
hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo Nguyễn Hiền Ph tại phiên tòa phúc thẩm phù
hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và phù hợp
với nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Qua đó đã có đủ cơ sở
xác định:
Bị cáo Nguyễn Hiền Ph là người được đào tạo và được cấp chứng chỉ vận
hành xe nâng. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/10/2020, Nguyễn Hiền Ph điều
khiển xe máy chuyên dụng (xe nâng lốp) biển số 50LA – 3568 lưu thông trên
Quốc lộ 1 theo hướng từ cầu vượt Bình Phước về cầu Bình Phước 2. Khi lưu
thông đến trước số nhà 35, Quốc lộ 1, khu phố 1, phường Hiệp Bình Phước,
thành phố Thủ Đức, thì Phúc điều khiển cho xe chuyển làn từ làn số 1 sang làn
số 2 không đảm bảo an toàn để bên trái giá nâng hàng phía trước xe chuyên
dụng biển số 50LA – 3568 va chạm với phía sau xe mô tô biển số 60R2 – 9397
do anh Đặng Văn Công điều khiển đang lưu thông bên trái cùng chiều làm xe
mô tô và anh Công ngã xuống đường, anh Công tử vong tại chỗ, xe mô tô hư
hỏng nhẹ. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Hiền Ph đã vi phạm Điều 13 của Luật giao thông đường bộ, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tại nạn giao thông.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1319/TT.20 ngày
18/11/2020 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về nguyên nhân tử vong của anh Đặng Văn Công là chết do đa chấn thương.
Bị hại Đặng Văn Công cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô trên
làn đường dành cho xe ô tô, (điều khiển phương tiện lưu thông không đúng làn đường, vi phạm điều 9 Luật giao thông đường bộ).
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Hiền
Ph về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, nên chấp nhận.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiền Ph, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn là do bị cáo điều khiển xe nâng chuyên dụng trên đường quốc lộ, khi cho xe chuyển làn đường đã không đảm bảo an toàn để bên trái giá nâng hàng phía trước xe nâng va chạm với phía sau xe mô tô của bị hại đang lưu thông bên trái cùng chiều làm bị hại ngã xuống đường, tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hiền Ph đã vi phạm Điều 13 của Luật giao thông đường bộ, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tại nạn giao thông. Bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển phương tiện lưu thông không đúng làn đường, vi phạm điều 9 luật giao thông đường bộ.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Hiền Ph về tội “Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã bồi thường xong theo yêu cầu của phía gia đình bị hại và được người đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm. Trên cơ sở đó Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hiền Ph mức án 01 năm 06 tháng tù, là phù hợp và cần thiết, nhằm đảm bảo công tác răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội, góp phần làm giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ trong nhân dân.
Tuy nhiên cũng xem xét vụ án xảy ra do lỗi hỗn hợp, tại cấp phúc thẩm
bị cáo Nguyễn Hiền Ph xuất trình chứng cứ mới, thể hiện bị cáo có bà nội Trần Thị Dướt được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 do có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được xem xét.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Hiền Ph có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết
giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, bản thân là lao động chính, có nơi
cư trú rõ ràng và nghề nghiệp ổn định, trong thời gian được tại ngoại bị cáo
luôn chấp hành tốt các quy định, không vi phạm pháp luật, ngoài ra còn tích
cực tham gia các phong trào vì cộng đồng tại địa phương. Do đó, không cần
thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo với thời
gian thử thách nhất định theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng
có đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng
ngừa chung trong xã hội. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo
Nguyễn Hiền Ph là có cơ sở nên chấp nhận. Sửa bản án sơ thẩm, giữ
nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hiền Ph, sửa bản án sơ thẩm.
Giữ nguyên mức hình phạt, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi
bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội
“Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho bị cáo được
hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án
phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hiền Ph cho Ủy ban nhân dân phường
Hiệp Bình Phước, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án
treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
[2] Bị cáo Nguyễn Hiền Ph không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định về án treo đối với bị cáo Nguyễn Hiền Ph)
N i nh n:
TM. H I NG XÉT X PHÚC TH M
- TAND TC;
(1) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp Cao tại TP.HCM (1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND thành phố Thủ Đức; (1)
- P.PC 53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Sở Tư pháp
(1)
- THA thành phố Thủ Đức; (2)
- TAND thành phố Thủ Đức;
(2)
- Công an thành phố Thủ Đức; (1)
Lê Công Huân
- UBND nơi bị cáo cư trú;
(2)
- Lưu: VT, THS, hồ sơ; (26) (4)