vanban.org

Bản án 376/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81 ngày 25/4/2011 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh An Giang mang tên ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị L không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 376/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24/8/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;

2. Ông Phan Phước Tân.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 507/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 570/QĐST-HNGĐ ngày 04/ tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm: 1977

Nơi ĐKKHK: số nhà 160, tổ 33, ấp V, xã T, huyện A, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: tổ 17, ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974, cư trú: số nhà 160, tổ 33, ấp V, xã T, huyện A, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa hôm nay bà L vắng mặt có đơn; ông H vắng)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Huỳnh Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Ông bà tiến đến hôn nhân là do mai mối, tổ chức đám cưới vào năm 1996, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi, ông H bỏ mặt vợ con, nhận thấy tình cảm không còn, chung sống không hạnh phúc nên bà Ln xin ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 04 con chung tên Nguyễn Thị Anh H, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1997, Nguyễn Phú P, sinh năm 1999, hiện trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 01/01/2015, hiện đang do bà L chăm sóc. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà yêu cầu nuôi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông H. Đồng thời, bà xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa bảo lưu ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông H theo quy định nhưng ông H vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà L, ông H để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Lời trình bày con chung: Cháu K cho biết ông H là cha ruột, bà L là mẹ ruột. Hiện cháu đang học lớp 1 trưởng tiểu học L, huyện T. Nếu Tòa án giải quyết cho cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ và không yêu cầu gì về cha.

Về nơi cư trú: Theo Thông báo số định danh cá nhân của Công an xã T ngày 18/6/2022 xác định ông H vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp V, xã T, huyện A, tỉnh An Giang chưa có thông tin tách chuyển đi nơi khác.

Về mâu thuẫn hôn nhân: Bà Lê Thị D – mẹ ruột ông Nguyễn Văn H thống nhất với lời trình bày của bà L.Về mâu thuẫn vợ chồng của ông H và bà L bà không có ý kiến, bà L bỏ chồng con đi khoảng hai năm nay không liên hệ hay về thăm con nên bà thống nhất việc bà L và ông H ly hôn nhau.

Tại phiên tòa, bà L vắng mặt có đơn, ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Bà L chung sống với ông H đến năm 2021 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Ông H hiện đang cư trú tại xã T, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, An Giang.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hôn nhân: Bà L và ông H xây dựng gia đình thông qua mai mối của hai bên gia đình và đồng ý tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 25/4/2011 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà L vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông H. Tại phiên tòa hòa giải bà L yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay bà L vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông H. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân từ năm 2021 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, bà L nhiều lần tìm cách liên hệ để hàn gắn nhưng ông H trốn tránh, gia đình hai bên đã lên tiếng nhưng không có kết quả.

Bà L cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bất đồng quan điểm dẫn đến tranh cãi tình cảm vợ chồng mất dần, ông H bỏ mặt gia đình, gia đình khuyên ngăn nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng ông bà phù hợp với lời trình bày của bà Lê Thị D là mẹ ruột ông H. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà là trầm trọng, không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong quá trình chung sống có 04 con chung tên Nguyễn Thị Anh H, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Anh T, sinh năm 1997, Nguyễn Phú P, sinh năm 1999 và Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 01/01/2015, hiện đang do bà L chăm sóc.

Các cháu H, T, P hiện đã đủ tuổi trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Riêng cháu K từ trước đến nay được bà L nuôi dưỡng, chăm sóc môi trường sống ổn định, tình cảm mẹ - con đã gắn bó việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của cháu sau này. Bên cạnh đó, cháu Kg cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này.

Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Huỳnh Thị L.

1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81 ngày 25/4/2011 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh An Giang mang tên ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị L không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị L được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 01/01/2015. Công nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Bà L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006941 ngày 20/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. Bà L nộp đủ. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2022), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ