vanban.org

Bản án 375/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Lê Hoàng L2, Dƣơng Văn D và Phan Thanh T phạm Tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩ L 23.000.000 đồng (hai mƣơi ba triệu đồng). Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn D 26.000.000 đồng (hai mƣơi sáu triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Vĩ L và đồng phạm phạm Tội đánh bạc. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Lê Hoàng L2, Dƣơng Văn D và Phan Thanh T phạm Tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 375/2018/HS-ST
Ngày 22-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn.

2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 373/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 374/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Vĩ L (tên gọi khác L), sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: 71/12/1/2A đƣờng 5, tổ 17, khu phố 2, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh B (đã chết) và bà La Lƣu H, sinh năm 1947; bị cáo có một ngƣời chị sinh năm 1973; có vợ tên Phạm Thị Tố L1, sinh năm 1979 và hai ngƣời con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

2. Lê Hoàng L2, sinh năm 1971 tại tỉnh Bến Tre; thƣờng trú: 79A đƣờng 12, khu phố 1, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hoàng T, sinh năm 1934 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1938; bị cáo có 01 ngƣời chị, sinh năm 1970; có vợ tên Vòng Mỹ P, sinh năm 1973 và 02 ngƣời con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

3. Dƣơng Văn D, sinh năm 1957 tại tỉnh Tiền Giang; thƣờng trú: 30/2 khu phố 1, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Dƣơng Thị T, sinh năm (không rõ); bị cáo có 02 anh chị em, lớn sinh năm 1955, nhỏ sinh năm 1959; có vợ tên Huỳnh Thị L3 (đã chết) và có 02 ngƣời con, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

4. Phan Thanh T, sinh năm 1969 tại tỉnh Tây Ninh; thƣờng trú: 58/15 khu phố 1, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn C (đã chết) và bà Trần Thị H2 (đã chết); có vợ tên Trần Thị Thanh V, sinh năm 1964; có hai con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Phan Huy H3, sinh năm 1962; địa chỉ: 38/13 khu phố 1, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

2. Bà Phan Ngọc T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 16/9/2018 tại bãi mua bán vỏ xe “A Lủ” thuộc tổ 4, khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Dƣơng Văn D, Phan Thanh T và Lê Hoàng L2 rủ nhau đánh bài binh xập xám ăn thua bằng tiền. Hình thức đánh là sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho 04 ngƣời mỗi ngƣời 13 lá bài sau đó binh thành 03 chi rồi tính thắng thua, mỗi ván bài ăn thua từ 100.000đồng đến 400.000đồng. Các bị cáo chơi đến 13 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lƣợng công an thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra phát hiện bắt quả tang ngƣời cùng tang vật gồm 01 bộ bài 52 lá và số tiền trên chiếu bạc 9.400.000đồng.

Qua điều tra xác định tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể nhƣ sau :

- Bị cáo Huỳnh Vĩ L là chủ bãi bán vỏ xe “A Lủ” sử dụng số tiền 2.000.000đồng đánh bạc, quá trình chơi không thắng không thua. Khi bị bắt bị tạm giữ số tiền 2.000.000đồng trên chiếu bạc.

- Bị cáo Dƣơng Văn D sử dụng số tiền 7.000.000đồng để đánh bạc, quá trình chơi thắng 400.000đồng. Khi bị bắt bị tạm giữ số tiền 7.400.000đồng trên chiếu bạc.

- Bị cáo Phan Thanh T sử dụng số tiền 6.500.000đồng để tham gia đánh bạc, trong quá trình chơi thua 300.000đồng. Khi bị bắt bị tạm giữ số tiền trên ngƣời là 6.200.000đồng.

- Bị cáo Lê Hoàng L2 sử dụng số tiền 5.100.000đồng để tham gia đánh bạc, trong quá trình chơi thua 100.000đồng. Khi bị bắt bị tạm giữ trên ngƣời số tiền là 5.000.000đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài 52 lá và số tiền 20.600.000 đồng (trong đó tiền thu trên chiếu bạc 9.400.000đồng, tiền thu giữ trong ngƣời các bị cáo là 11.200.000 đồng).

Bản Cáo trạng số 380/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Lê Hoàng L2, Dƣơng Văn D, Phan Thanh T về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 53 Bộ luật Hình sự; bị cáo L2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; đề nghị xử phạt các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Lê Hoàng L2, Dƣơng Văn D, Phan Thanh T, mỗi bị cáo với mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ cáo trạng đã tóm tắt, các bị cáo xác định toàn bộ số tiền 20.600.000 đồng thu giữ đƣợc sử dụng vào đánh bạc và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tạm giữ các bị cáo sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú là đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 16/9/2018 tại bãi mua bán vỏ xe “A Lủ” thuộc tổ 4, khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Dƣơng Văn D, Phan Thanh T và Lê Hoàng L2 đánh bạc ăn thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc là binh sập xám, mỗi ván thắng thua từ 100.000đồng đến 400.000đồng. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lƣợng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang ngƣời cùng tang vật gồm: 01 bộ bài 52 lá và số tiền trên chiếu bạc 9.400.000đồng, thu giữ trong ngƣời 11.200.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc 20.600.000 đồng.

Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”…

Nhƣ vậy hành vi của các bị cáo đánh bạc dƣới hình thức binh xập xám, thắng thua bằng tiền đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng số: 380/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nƣớc nghiêm cấm nhƣng vì tham lam tƣ lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vài trò đều là ngƣời thực hành.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bi cáo L2 có mẹ là thƣơng binh. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện có việc làm ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu phạm tội, nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian đƣợc tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng; xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và cũng không làm ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp:

Xét 01 bộ bài Tây các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 20.600.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc.

Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát về tội danh, pháp luật áp dụng và vấn đề xử lý vật chứng là phù hợp nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo là chƣa phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm các bị cáo đã thực hiện Hội đồng xét xử không chấp nhận mà áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Lê Hoàng L2, Dƣơng Văn D và Phan Thanh T phạm Tội đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Vĩ L 23.000.000 đồng (hai mƣơi ba triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn D 26.000.000 đồng (hai mƣơi sáu triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 26.000.000 đồng (hai mƣơi sáu triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng L2 24.000.000 đồng (hai mƣơi bốn triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tƣ pháp:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tây 52 lá.

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 20.600.000 đồng (Hai mƣơi triệu, sáu trăm nghìn đồng).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/11/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Vĩ L, Dƣơng Văn D, Lê Hoàng L2 và Phan Thanh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ