- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Trúc Mai"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Trúc M đối với ông Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 374/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03/9/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga.
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 256/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Trúc M, sinh năm: 1979. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 21/12/2021.
Địa chỉ cũ: Tổ 15 ấp 4, xã VL, huyện BC, Thành phố H.
Nay là địa chỉ: Tổ 15 ấp 4, xã VL, Thành phố H.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ; sinh năm: 1970. (vắng mặt)
CMND số xxxxxxxxx.
Địa chỉ cũ: Tổ 15 ấp 4, xã VL, huyện BC, Thành phố H.
Nay là địa chỉ: Tổ 15 ấp 4, xã VL, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 13/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị Trúc M trình bày: Bà Bùi Thị Trúc M và ông Nguyễn Văn Đ bắt đầu chung sống với nhau từ năm 1998 và đăng ký kết hôn vào ngày 15/7/2010 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số II/2010 do Uỷ ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2010. Trong quá trình chung sống do tính tình không hoà hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên vợ chông chung sống không hạnh phúc. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Mai yêu cầu ly hôn với ông Đài.
Về con chung: Bà Bùi Thị Trúc M và ông Nguyễn Văn Đ có ba con chung gồm Nguyễn Thị Thu Thảo; (giới tính: Nữ), sinh ngày 02/3/1998; Nguyễn Thị Thu Hương; (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/7/2003 và Nguyễn Trang Anh; (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/11/2011. Hiện nay Nguyễn Thị Thu Thảo; (giới tính: Nữ), sinh ngày 02/3/1998 và Nguyễn Thị Thu Hương; (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/7/2003 đã trưởng thành. Riêng trẻ Anh đang sống chung với bà Mai. Do đó sau khi ly hôn bà Mai yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Anh và không yêu cầu ông Đài cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Trúc M xác nhận không có.
Ngoài ra bà Mai không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Đài.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Trúc M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Bùi Thị Trúc M nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn Văn Đ hiện đang cư trú tại Tổ 15 ấp 4, xã VL, huyện BC, Thành phố H. Nay là địa chỉ: Tổ 15 ấp 4, xã VL, Thành phố H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Nguyễn Văn Đ đến Tòa án để tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng ông Đài vẫn vắng mặt và bà Bùi Thị Trúc M thì có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Mai và ông Đài theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Đài đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án nên ông Đài đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Ông Đài phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu xin ly hôn, lời trình bày của bà Mai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.
Về quan hệ vợ chồng: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số II/2010 do Uỷ ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/7/2010 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Mai và ông Đài là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Mai xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà Mai yêu cầu được ly hôn với ông Đài để mỗi người tạo dựng cuộc sống riêng.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu trên của bà Mai hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bởi lẽ, theo lời trình bày của bà Mai thì quan hệ vợ chồng của bà Mai và ông Đài đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Mai và ông Đài là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Mặt khác, do ông Đài đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để mời tham dự phiên hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng ông Đài vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện ông Đài không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Mai đối với ông Đài.
Về con chung: Bà Bùi Thị Trúc M xác nhận bà Mai và ông Nguyễn Văn Đ có ba con chung gồm Nguyễn Thị Thu Thảo; (giới tính: Nữ), sinh ngày 02/3/1998; Nguyễn Thị Thu Hương; (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/7/2003 và Nguyễn Trang Anh; (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/11/2011. Hiện nay Nguyễn Thị Thu Thảo; (giới tính: Nữ), sinh ngày 02/3/1998 và Nguyễn Thị Thu Hương; (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/7/2003 đã trưởng thành. Riêng trẻ Anh đang sống chung với bà Mai. Do đó sau khi ly hôn bà Mai yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Anh và không yêu cầu ông Đài cấp dưỡng nuôi con.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét thấy hiện nay trẻ Anh đang sống chung với bà Mai và bà Mai yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Anh. Do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên giao trẻ Anh cho bà Mai trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho trẻ Anh.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, do bà Mai không yêu cầu ông Đài thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn. Do đó tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Anh đối với ông Đài cho đến khi bà Mai có yêu cầu.
Về tài sản chung và về nợ chung: Do bà Mai xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết còn ông Đài vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí: Bà Bùi Thị Trúc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Trúc M đối với ông Nguyễn Văn Đ.
Bà Bùi Thị Trúc M được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 127, quyển số II/2010 do Uỷ ban nhân dân phường Tân Chánh Hiệp, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Ủy ban nhân dân phường Trung Mỹ Tây, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 15/7/2010 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Trang Anh; (giới tính: Nữ), sinh ngày 01/11/2011 cho bà Bùi Thị Trúc M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Anh đối với ông Đài cho đến khi bà Mai có yêu cầu.
Đối với Nguyễn Thị Thu Thảo; (giới tính: Nữ), sinh ngày 02/3/1998 và Nguyễn Thị Thu Hương; (giới tính: Nữ), sinh ngày 26/7/2003 hiện nay đã trưởng thành.
Ông Nguyễn Văn Đ có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Trúc M xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
4. Về án phí: Bà Bùi Thị Trúc M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Mai đã nộp theo biên lai thu số 0052174 ngày 26/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà Mai đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKS Khu vực 10, TPHCM; - THADS, TPHCM; - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trọng Hưng |