vanban.org

Bản án 371/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị H đối với anh Nguyễn Khắc C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Khắc C. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo T sinh ngày 01/11/2024 cho chị Hà Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị H - Nguyễn Khăc C"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị H đối với anh Nguyễn Khắc C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 371/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2026
V/v: tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Chiến.

2. Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 223/2026/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2026/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1999; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục C1 về TTXH cấp ngày 26/9/2023.

Đăng ký thường trú : Thôn Y, xã L, tỉnh Thanh Hóa.

Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc C, sinh năm 1998. Căn cước CD số 001098004618.

Đăng ký thường trú: Thôn P, xã Q, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Khắc C quen biết và tìm hiểu nhau khi cả hai đang lao động ở Nhật Bản. Sau đó anh chị tự nguyện kết hôn với nhau nên đã quay về Việt Nam khoảng 10 ngày để hai gia đình tổ chức đám cưới và đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, nay là xã Q, thành phố Hà Nội vào ngày 07 tháng 5 năm 2024. Sau thời gian nghỉ để tổ chức hôn lễ, anh chị lại sang Nhật Bản tiếp tục làm việc nhưng hai vợ chồng ở hai nơi cách nhau xa nên không thể gặp nhau thường xuyên. Đến tháng 11/2024 chị quay về Việt Nam để sinh con. Thời gian hai mẹ con ở Việt Nam, anh C có về thăm con nhưng lại thường đi tụ tập bạn bè, có hôm còn đi qua đêm chứ không hề chia sẻ gì với chị việc chăm nuôi con trong thời gian này. Khi con được 6 tháng thì chị gửi cho mẹ anh C trông nom, chăm sóc giúp và quay trở lại Nhật Bản làm việc thì cũng là lúc chị phát hiện anh C sử dụng chất cấm. Chị có khuyên nhủ nhưng anh C chỉ hứa sẽ sửa sai mà không thực hiện được nên chị đã quay về Việt Nam, xác định cuộc hôn nhân của mình khó có thể duy trì tiếp được. Sau đó, chị xin phép đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở với mong muốn anh C sẽ thay đổi cách sống để vợ chồng có thể hàn gắn tình cảm. Thời gian đầu vợ chồng ly thân, anh C còn chủ động đề nghị chị làm thủ tục ly hôn nhưng chị không đồng ý vì cũng hy vọng anh C sẽ thay đổi. Sau hơn 1 năm ly thân đến nay chị thấy việc hàn gắn với anh C là rất khó vì tìm hiểu qua bạn bè chị biết anh ấy vẫn không bỏ được chất cấm. Mặt khác, trước đây hàng tuần anh C đều điện thoại về cho chị để vợ chồng hỏi thăm, chia sẻ với nhau nhưng sau đó tần suất điện thoại ngày càng thưa dần, đến nay thì 3-4 tháng mới điện thoại về chỉ để hỏi thăm con, vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Đến thời điểm làm đơn xin lý hôn là chị xác định không thể tiếp tục được hôn nhân với anh C nên đề nghị Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị. Về con chung: Chị và anh C chỉ có một con chung Nguyễn Bảo T sinh ngày 01/11/2024. Hiện chị vẫn đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Từ trước đến nay anh C có gửi tiền về cho chị nuôi con, hiện là 1.000.000đ/tháng và cứ hai tháng anh C gửi về 1 lần. Nay vợ chồng ly hôn, chị yêu cầu anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 6/2026.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Khắc C hiện không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú ở xã Q, thành phố Hà Nội. Do đó, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh C và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Xác minh đối với bà Nguyễn Thị H1 – là mẹ đẻ của anh Nguyễn Khắc C được biết: Bà không biết giữa hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn cụ thể như thế nào nhưng khi chị H nói với gia đình về việc muốn ly hôn anh C thì gia đình có khuyên nhủ để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, chị H vẫn quyết định ly hôn. Anh C trao đổi với gia đình là cũng muốn đoàn tụ nhưng chị H không đồng ý nên anh C cũng đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa:

- Chị H vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H. Xử chị H được ly hôn với C. Về con chung : Giao chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Bảo T sinh ngày 01/11/2024, anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 6/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản chung, công nợ chung không có nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Anh C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về thủ tục tố tụng:

Chị Hà Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Khắc C hiện có đăng kí thường trú tại thôn P, xã Q thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Qua xác minh đối với công an địa phương, trưởng thôn và gia đình anh C được biết hiện anh C không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú. Gia đình anh C không biết địa chỉ nơi anh đang sinh sống, làm việc, chỉ liên lạc qua mạng xã hội Zalo nên không cung cấp được cho Toà án. Toà án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H kết hôn với anh Nguyễn Khắc C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Q, nay là xã Q, thành phố Hà Nội vào ngày 07/5/2024. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ các tài liệu đã thu thập được cho thấy thực tế sau khi kết hôn, thời gian vợ chồng anh chị chung sống cùng với nhau là rất ít. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai vợ chồng cũng không ở bên nhau để cùng hoá giải mâu thuẫn, cùng nhau chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống. Sự xa cách, lại không thường xuyên liên lạc với nhau khiến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần cho đến khi anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ly hôn là cần thiết. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh C.

- Về con chung: Chị H và anh C có một con chung Nguyễn Bảo T sinh ngày 01/11/2024. Hiện chị H vẫn đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung kể từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do cháu T hiện dưới 36 tháng tuổi nên việc giao cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cũng như phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo chị H khai, từ khi chị sinh con đến nay anh C vẫn gửi tiền về cho chị nuôi con. Trước đây thì gửi về 2.000.000đ/tháng nhưng từ khi chị làm đơn xin ly hôn thì chỉ gửi 1.000.000đ/tháng và cứ hai tháng anh C gửi về 1 lần. Do vậy, chị yêu cầu anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 6/2026. Xét thấy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 6/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị H đối với anh Nguyễn Khắc C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Khắc C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo T sinh ngày 01/11/2024 cho chị Hà Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Anh Nguyễn Khắc C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Khắc C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng)/tháng kể từ tháng 6/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009066 ngày 14/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Anh Nguyễn Khắc C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hà Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Khắc C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND KV 10-HN;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- THADS TP Hà Nội;

- Các đương sự;

- UBND xã Quốc Oai, TP Hà Nội (số đăng kí kết hôn 39/2024);

- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;

Đào Thị Thúy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH T1).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn L nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự. (26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ