vanban.org

Bản án 371/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Xö: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A1 đối với anh Phùng Văn D. Cho chị Nguyễn Thị A1 được ly hôn anh Phùng Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 371/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/08/2023
V/v: “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hƣờng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Chiển và ông Nguyễn Đại Huy

Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hải Phƣơng, Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát : Ông Đỗ Xuân Hƣng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 08 năm 2023 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 179/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 04 năm 2023 về việc tranh chấp“ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 07 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số:35/2023/QĐST- HNGĐ ngày 28/7/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A1, sinh năm: 1993;

HKTT: Xóm 4, xã H, huyện GT, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Phùng Văn D, sinh năm: 1987;

HKTT: Thôn Tăng Cấu, xã ĐT, huyện B, thành phố Hà Nội

(Chị A1 có mặt; Anh D vắng mặt lần thứ 2 )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị Nguyễn Thị A1 trình bày: Chị kết hôn với anh Phùng Văn D trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện B, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 5 năm, đến cuối năm 2015 thì anh D chơi bời lô đề, cờ bạc, nên dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn hay cãi nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay khi ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Hiện nay chị A1 xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Văn D.

Về con chung: Có 01 con chung, cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015. Hiện nay cháu P1 đang ở với chị A1. Chị A1 đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A1 không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: Không có.

Đối với anh Phùng Văn D Tòa án đã triệu tập rất nhiều lần nhưng anh D cố tình trốn tránh pháp luật, không đến Tòa làm việc.

Tại biên bản xác minh ngày 26/4/2023 Ủy ban nhân dân xã ĐT cho biết: Anh Phùng Văn D và chị Nguyễn Thị A1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện B, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2015. Chị Nguyễn Thị A1 là người có hộ khẩu tại huyện GT, tỉnh Nam Định. Anh Phùng Văn D có hộ khẩu tại thôn Tăng Cấu, xã ĐT, huyện B, Hà Nội. Sau khi kết hôn xong chị A1 và anh D chung sống với nhau ngay tại xã ĐT, huyện B, Hà Nội. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D ham chơi lô đề, cờ bạc. Khi chị A1 và anh D xảy ra mâu thuẫn cũng không báo với chính quyền địa phương xã để hòa giải. Nay chị Nguyễn Thị A1 có đơn xin ly hôn anh Phùng Văn D thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị A1 và anh D có một con chung cháu là Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tại sản riêng, chung, nợ chung: Chính quyền địa phương không nắm được. Ngoài ra chính quyền địa phương không cung cấp thêm thông tin gì khác.

Tại buổi làm việc với gia đình anh Phùng Văn D, Bà Phùng Thị N là mẹ đẻ của anh Phùng Văn D cho biết: Bà là mẹ đẻ của anh Phùng Văn D, tôi có nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhiều lần báo gọi anh D đến làm việc. Anh Phùng Văn D có kết hôn với chị Nguyễn Thị A1 tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện B, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2015. Sau khi kết hôn được một tháng thì chị A1 sinh con, sau đó chị A1 và anh D đi làm ăn ở Hà Nội và để con ở nhà cho tôi nuôi. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh D ham chơi lô đề cờ bạc dẫn đến nợ nần. Nay chị A1 có đơn xin ly hôn anh D tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị A1 và anh D có một con chung cháu là Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015. Nếu chị A1 và anh D ly hôn thì tôi đề nghị giao cháu P1 cho chị A1 tiếp tục nuôi dưỡng. Về tại sản riêng, chung: Anh D và chị A1 không có. Về nợ chung: Anh D và chị A1 không nợ nần ai và không cho ai nợ nần gì.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các Thông báo, Quyết định theo quy định của pháp luật đối với anh D. Anh Phùng Văn D cố tình trốn tránh, không đến Tòa làm việc. Vì vậy vụ án không thể tiến hành hòa giải được. Đối với anh Phùng Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên tòa, sau khi có quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt, niêm yết đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh D vẫn không có mặt.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị A1 vẫn giữ quan điểm và đề nghị của mình.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đều thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật; Hồ sơ đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Nguyễn Thị A1 đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Anh Phùng Văn D không chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị A1. Cho chị Nguyễn Thị A1 được ly hôn anh Phùng Văn D.

- Về con chung: Giao cho chị A1 được nuôi dưỡng cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015 cho đến khi cháu P1 trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D đến khi chị A1 có yêu cầu.

- Tài sản chung, riêng, công sức chung, nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị A1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Thị A1 làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hà Nội giải quyết hôn nhân giữa chị và anh Phùng Văn D. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hà Nội.

Anh Phùng Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng đến ngày hôm nay không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phùng Văn D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A1 và anh Phùng Văn D có tự nguyện tìm hiểu, gia đình có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện B, thành phố Hà Nội ngày 12/01/2015. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chị về chung sống với nhau ngay tại nhà anh Phùng Văn D. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được gần 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng là do anh D ham mê chơi bời lô đề, cờ bạc, dẫn đến nợ nần, bất đồng quan điểm sống nên không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay, khi ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay chị A1 xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị được ly hôn anh Phùng Văn D. Anh Phùng Văn D đã được tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa làm việc. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị A1 và anh D đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống không hợp nhau, hôn nhân không có hạnh phúc, bản thân anh D ham mê lô đề cờ bạc dẫn đến nợ nần. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay trong thời gian ly thân cả hai bên đều không có biện pháp khắc phục tình cảm vợ chồng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A1 và cho chị Nguyễn Thị A1 được ly hôn anh Phùng Văn D.

. Về con chung: Có 01 con chung, cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015. Chị A1 yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét nguyện vọng xin được nuôi con của chị A1 là hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Xét nguyện vọng của cháu P1 cũng mong muốn và xin được ở với mẹ là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc. Do vậy, HĐXX cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật HNGĐ để giao cho chị Nguyễn Thị A1 được nuôi dưỡng cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015 cho đến khi cháu P1 trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị A1 không yêu cầu anh Phùng Văn D phải cấp dưỡng nuôi con chung. HĐXX xét thấy việc yêu cầu của chị A1 là hoàn toàn tự nguyện nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phùng Văn D cho đến khi chị A1 có yêu cầu.

Anh Phùng Văn D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

. Về tài sản riêng, tài sản chung, công sức chung, công nợ chung: chị A1 khai: Không có. Anh D vắng mặt nên HĐXX chưa giải quyết.

[5]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 25 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Chị Nguyễn Thị A1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3, Điều 39; Điều 147, 227, 228 , 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Xö: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A1 đối với anh Phùng Văn D.

1. Cho chị Nguyễn Thị A1 được ly hôn anh Phùng Văn D.

2.Về con chung: Có 01 con chung, cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015. Giao cho chị Nguyễn Thị A1 được nuôi dưỡng cháu cháu Phùng Kiếm P1, sinh ngày: 23/02/2015 cho đến khi cháu P1 trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phùng Văn D cho đến khi chị Nguyễn Thị A1 có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.

Anh Phùng Văn D được quyền qua lại thăm non chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

3.Về tài sản riêng, chung, công sức chung, công nợ chung: Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị A1 phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị A1 đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0060935 ngày 21/04/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B nay được khấu trừ vào số tiền án phí ly hôn sơ thẩm mà chị A1 phải nộp.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị A1 có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phùng Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ