- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 370/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 7- 2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hôm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mẫn
2. Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Nhan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 765/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024. Giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Th, sinh năm: 1991; HKTT: khu phố 8, thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn 6, xã EaLe, huyện EaSup, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Phạm Thanh M, sinh năm: 1985; địa chỉ: khu phố 8, thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Th trình bày: Chị và anh Phạm Thanh M tự tìm hiểu quen biết và chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang theo quy định pháp luật.
Chị và anh M chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh M thay đổi tánh tình, thường xuyên rượu chè kiếm chuyện vô cớ đánh đập vợ con, sống thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm vợ con, vợ chồng không có tiếng nói chung thường xuyên cự cải, gây gỗ với nhau. Chị và anh M đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay.
Chị và anh M có một con chung tên Phạm Thanh Hoài, sinh ngày 07/10/2013 hiện đang sống với chị.
Chị không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung với anh M.
Nay chị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị Th yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Hoài, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng hết thời gian quy định vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh M đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh M vẫn vắng mặt, không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn và yêu cầu được quyền nuôi con chung với anh M nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh M là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Th, anh M theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Về hôn nhân: Chị Th và anh M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2010, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh, chị được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị Th và anh M phát sinh nhiều mâu thuẫn đã được chị Th xác định trong quá trình khởi kiện tại Tòa án. Riêng anh M không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng anh M không có ý kiến phản đối cũng như cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Mặc dù, nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của chị Th là do anh M đổi tánh tình, thường xuyên rượu chè kiếm chuyện vô cớ đánh đập vợ con, sống thiếu trách nhiệm với gia đình. Từ đó làm cho tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn thương yêu quan tâm lẫn nhau. Hiện tại giữa chị Th và anh M đã không còn chung sống vợ chồng nên có đủ căn cứ để chứng minh đời sống vợ chồng của chị Th và anh M không thể kéo dài, mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được. Và kể từ thời điểm chị Th khởi kiện, thông qua gia đình anh M đã biết được nhưng cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặc dù Tòa án đã triệu tập anh để hòa giải nhưng anh vắng mặt. Xét thấy, chị Th và anh M đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng nên chị Th yêu cầu được ly hôn với anh M là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Th được ly hôn anh M.
- Về con chung: Chị Th xác định chị và anh M có một con chung tên Phạm Thanh Hoài, sinh ngày 07/10/2013 hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hoài, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị Th là có cơ sở chấp nhận - bởi lẽ xét thấy từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Hoài do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng và anh M cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con của chị Th. Mặc khác, tại bản tự khai cháu Hoài có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với chị Th. Do đó Hội đồng xét xử nghị nên giao cháu Hoài cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh M có quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có quyền cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Chị Th xác định không yêu cầu giải quyết. Anh M cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Án phí ly hôn sơ thẩm chị Th phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị Th đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002392 ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Th được ly hôn với anh Phạm Thanh M.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh Hoài, sinh ngày 07/10/2013 cho chị Huỳnh Thị Th tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật). Anh M có quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung không ai có quyền cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị Th không yêu cầu nên không giải quyết.
4. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002392 ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã; - Các đương sự; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dƣơng Văn Hôm |